Và lại tuổi 20 ra trận


Một trăm ngày trước tuổi hai mươi. Một tiểu thuyết ngắn, thời gian tiểu thuyết chỉ diễn ra trong đúng 100 ngày, và đó là 100 ngày người lính chuẩn bị đi vào chiến trường, một trăm ngày chưa có chiến tranh nhưng đầy những dự cảm về cuộc chiến sắp tới. Vẫn là chiến trường Campuchia. Vẫn những người lính tuổi hai mươi, chỉ năm năm sau thế hệ những người lính tuổi hai mươi đi vào chiến trường chống Mỹ. Hai cuộc chiến tranh gần như liên tiếp nhau.

Tôi chợt nhớ những câu thơ của thi sĩ Hoài Anh viết về đêm bùng nổ toàn quốc kháng chiến chống Pháp, 19/12/1946:

Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy
  Ra phố mua một bao thuốc lá
  Chín năm sau anh mới trở về nhà

  Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến

  Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô

Đó là một chàng trai Hà Nội ngày khởi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. “Cú” rời nhà đi chiến trường của anh cứ nhẹ như không, như chuyện mua một bao thuốc lá.

Khi bước vào cuộc chiến tranh thứ ba, nếu kể cuộc chống Pháp là thứ nhất, bạn Đoàn Tuấn của tôi, một chàng trai Thủ đô, không có được cái tâm thế quá nhẹ nhàng như vậy, không quá tình cờ như vậy, nhưng cũng không nhiều dằn vặt. Khi nhận giấy báo nhập ngũ, ngay trong ngày biết kết quả thi đại học, biết mình đã đỗ vào khoa Ngữ văn trường đại học Tổng hợp Hà Nội, Đoàn Tuấn vẫn dằn lòng xuống: “Vậy thì đi. Cái chuyện hệ trọng, mình nhìn nhận sao cho bình thường. Cái chuyện nặng nề, mình làm sao cho nó nhẹ nhàng” (Trang 16) “Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc” - năm 1974, tôi có viết một bài thơ ngắn, trong đó có câu thơ như vậy. Đó là thời điểm cách ngày 30/4/1975 tới hơn một năm, và khi tôi đã ở chiến trường Nam Bộ. Cú dằn lòng của Đoàn Tuấn, dù anh không nói dài hơn, nhưng tôi nghĩ, nó không thể không nặng nề. Vì, nói thật, cuộc ra đi chiến trường của thế hệ chống Mỹ chúng tôi vẫn khác nhiều với cuộc ra đi sang chiến trường Campuchia của thế hệ Đoàn Tuấn sau đó. Mình đừng nghĩ cuộc chiến tranh nào cũng như nhau. Tôi đã có dịp trò chuyện với nhiều cựu binh từng tham chiến ở Campuchia, điều mà họ cảm thấy đau đớn nhất là họ chiến đấu khi không có nhân dân mình ở phía sau che chở, bảo bọc. Họ rất cô đơn, dù bên cạnh vẫn là đồng đội. Trong khi thế hệ chống Mỹ chúng tôi, luôn sống và chiến đấu trong lòng nhân dân, được nhân dân nuôi nấng, che chở.

Tôi nghĩ, sau khi đã đọc mấy tác phẩm viết về chiến tranh của Đoàn Tuấn, là anh chịu ảnh hưởng khá đậm đà từ E.M.Remarque. Việc chịu ảnh hưởng này do có sự đồng cảm, cộng cảm sâu sắc giữa một nhà văn -lính - Việt khoảng gần cuối thế kỷ 20 với một nhà văn - lính - Đức vào đầu thế kỷ 20, trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Khoảng cách có thể cả thế kỷ, nhưng sự đồng cảm thì bất chấp thời gian. Được sự ảnh hưởng từ văn hào Remarque, một nhà văn tầm thế giới viết về chiến tranh, là một may mắn lớn cho Đoàn Tuấn. Cách nhìn, cách viết về chiến tranh của Remarque là cách của chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt. Đoàn Tuấn cũng vậy. Không từ chối cả những chi tiết sống sượng, khi nó là hiện thực. Có một câu hát từ đâu đó: “Nhưng chiến tranh không phải trò đùa”. Đúng như vậy. Những nhà văn đã tham chiến đều chọn cách viết hiện thực khi mô tả chiến tranh. Thậm chí, đi đến tận cùng của sự thật.

Cách đây đã nhiều năm, khi Đoàn Tuấn và Lê Minh Quốc, hai anh lính tình nguyện tham chiến ở chiến trường Campuchia in chung một tập thơ Đất bên ngoài tổ quốc, tôi đã nói với Tuấn: “Các bạn phải có trách nhiệm viết về cuộc chiến tranh này, nếu không, khi thế hệ các bạn đi qua, cuộc chiến tranh dữ dội và đau đớn ấy có thể bị rơi vào quên lãng”.

Nếu cuộc chiến tranh chống Mỹ đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ tham gia và sáng tác, thì ở cuộc chiến Campuchia, vì những đặc điểm rất riêng của nó, sẽ không có nhiều tác phẩm viết về cuộc chiến này. Nhưng máu xương những người lính Việt thì vẫn vậy, không khác. Ở tác phẩm của Đoàn Tuấn, cái làm tôi nhớ nhất vẫn là những chi tiết. Những chi tiết hết sức bình thường, thậm chí, tầm thường, nhưng nó sống, nó hiện thực. Không tránh né hiện thực cuộc chiến, viết như trải lòng, như trả món nợ ân tình với đồng đội mình, Đoàn Tuấn là nhà văn hiếm hoi viết về cuộc chiến này, và găm được vào người đọc không ít điều nhắc nhớ. Có một chi tiết trong tiểu thuyết Một trăm ngày trước tuổi hai mươi này khiến tôi xót xa, đó là câu chuyện Đoàn Tuấn kể về một cô gái người gốc Hoa tên Phương, không biết chỉ là bạn hay là người yêu của tác giả, nhưng cách nhìn, cách nghĩ, và số phận của Phương khiến một người gốc Việt như tôi phải đau lòng. Không ai muốn những người Hoa lương thiện, lao động và nghèo khổ như thế phải rời bỏ Việt Nam khi bị gán cho danh xưng “nạn kiều” cả. Cô gái tên Phương đã rất đau đớn khi phải rời Việt Nam mà cô coi như quê hương thứ nhất của mình. Nhân vật xưng “tôi” trong tiểu thuyết cũng vậy. Nhưng rồi, một người phải về Trung Quốc, một người phải đi chiến trường tận đất Campuchia… Rất nhiều câu chuyện, vui có, buồn có, đau đớn có, được tác giả kể một cách hồn nhiên trong cuốn sách này, sự hồn nhiên của tuổi hai mươi khiến chúng ta phải ngậm ngùi.

Chúng tôi thỉnh thoảng về Hòa Bình (nơi luyện quân trong 100 ngày hồi đó), thăm nơi đóng quân cũ. Thấy những hộ dân còn nghèo, chúng tôi hỗ trợ cho nhà mua cái xe máy, nhà thì nuôi đàn dê, nhà có cái ti-vi… Đồng đội bảo tôi, ông nên viết lại chuyện buổi đầu chúng tôi đi lính ra sao. Suy nghĩ mãi, mới dám cầm bút”. (Vỹ Thanh)

Riêng tôi, cứ bồi hồi khi tác giả kể trong “Vỹ Thanh” về nhân vật Phương, sau này khi sang định cư ở nước thứ ba là Canada, đã có một cuộc sống yên bình. Và đã nhiều lần trở về Việt Nam trong vai giám đốc một Công ty du lịch lữ hành. Cuộc đời vẫn có hậu, là như thế.

Nguồn Văn nghệ số 23/2019

           

Tin liên quan

Nghe con sóng nguyện cầu

Và đây là đôi lời tri âm với Biển mặn như được thắp thêm một nén tâm nhang gửi tới nhà thơ - nhạc sĩ ...

Đứng yên và chuyển động

Trong suốt một khoảng thời gian dài từ lúc chính thức xuất hiện cho đến khi chạm ngõ thế kỉ XX, gần ...

Đồi thông hai mộ - sức sống mới của một hình thức cũ

​Rất tiếc, cho đến ngày hôm nay, một câu chuyện tưởng như quen thuộc như vậy vẫn còn là một dấu hỏi ...

Văn học viết về lịch sử: Chân lí từ quá khứ hay sự thật trong trái tim con người

Lịch sử đương nhiên là quá khứ, nhưng không bao giờ lịch sử ôm trọn quá khứ, mặt khác, những khả năn ...

Có cứng mới đứng đầu gió

Lấy địa bàn và cư dân hai xóm Răng Ngựa người Hán Trung Hoa và Mỏ Phàng người Mông Việt Nam ở Mèo Vạ ...

Cái khó của nghề dịch văn học

...Trên văn đàn văn học Anh và các nước sử dụng ngôn ngữ Anh, văn học Nhật Bản trở thành một khía cạ ...

Hằng số trong tư chất thi sĩ - lịch sử và hiện tại

​Chúng ta không khó để tìm được những giới thuyết về tư chất nghệ sĩ, nhà văn trong các tài liệu, cô ...

TÌNH HÌNH TIẾP THU LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY

Việc ứng dụng các lý thuyết của nước ngoài để nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã đạt được một số thành ...

Con người dấn thân trong văn xuôi đề tài tha hương đầu thế kỉ XXI

Một trong những thành tựu quan trọng của văn học Việt Nam từ sau 1986 là đổi mới quan niệm nghệ thuậ ...

Ba người đàn bà và thơ lục bát

Một trưa phương Nam khá mát so với những gì nhẽ ra nó phải có, ở một quán vừa cà phê nửa ăn nhậu nga ...

Hát cho mây nước biết

​Vào những ngày này, khi Trung Quốc lại đưa tầu thăm dò dầu khí vào Bãi Tư Chính, lãnh hải thiêng li ...

Mà kịch hay chưa hồi kết

​Với trải nghiệm thấm đẫm tình người, nhãn quan thâu tóm được cảnh đời, đặc biệt có một trái tim luô ...