Thu Bồn- "đánh đu cùng dâu bể"


 

Thu Bồn là nhà thơ hiện đại mà số phận đã phải trải qua nhiều thăng trầm đặc biệt. Tham gia chiến đấu, lập nhiều chiến tích, được nhận huân chương; làm văn thơ đạt tới vinh dự cao quý – nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học-Nghệ thuật, giải thưởng Bông Sen (Lotus) của Hội Nhà văn Á-Phi. Tuy nhiên, nhà thơ ấy đã phải vượt qua bao khó khăn, cực nhọc, buồn đau trong cuộc đời riêng – chung để có thể vừa vững bước trận mạc, vừa chắc tay trong văn chương.

Thu Bồn đến và gắn bó với cây súng từ tuổi trẻ. Không chỉ là cây súng trường, mà còn là khẩu pháo của pháo  binh. Cũng là người luôn được cử đi học sử dụng vũ khí mới, và được cử làm Khẩu đội trưởng… Một số nhà văn, nhà thơ có “tuổi thơ dữ dội”, trong đó có cậu be Hà Đức Trọng. Bởi, khi chưa đầy 12 tuổi, cậu đã vào Thiếu sinh quân, làm liên lạc. Trong khi ở trong Nam, Nguyễn Quang Sáng cũng tham gia Thiếu sinh quân, đi tuyên truyền ca hát cùng tuổi ấy, mới 15, cậu thiếu niên miền Trung này đã vào bộ đội địa phương. Năm 17, nghĩa là còn tuổi vị thành niên, thì anh đã là Tiểu đội trưởng xung kích một Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Quân khu V.

Hiếm có chiến sĩ nào mà cuộc đời chinh chiến dài dặc và đầy gian khổ, hiểm nguy như Thu Bồn. Bởi thế mà có câu thơ như lời tự nghiệm, tự vận vào bản thân: “… đánh đu cùng dâu bể”

Cuộc đời ấy là cuộc đời của một chiến binh thực thụ. Anh đã có mặt trên nhiều chiến trường, trên diễn biến nhiều chiến dịch: Qua kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ. Từ miền Bắc tập kết vào ở trường Sĩ quan lục quân, năm 1962, Thu Bồn trở về sớm nhất ở mặt trận Khu B3 – là địa bàn chiến đấu gian khổ, ác liệt nhất lúc bấy giờ. Sống, gắn bó máu thịt và chiến đấu dũng cảm ở Tây Nguyên lâu dài đầy gian khó, và lập nhiều chiến công mà chắc cũng hơn nhiều đồng đội Nguyên Ngọc – bám trụ Tây Nguyên hồi chống Pháp để có được Đất nước đứng lên. Nguyễn Chí Trung có Bức thư làng Mực, và sau này Tiếng khóc của nàng Út về chiến trường khu V… Vượt lên tất cả, Thu Bồn còn trở đi trở lại Tây Nguyên với những chiến công văn chương vang dội. Từ Bài ca chim Ch’rao đến sản phẩm từ máu lửa như Campuchia hy vọng từ biên giới Tây Nam. Hơn hẳn nhiều bạn bè trong đội ngũ, Thu Bồn còn tham gia chiến đấu trên biên giới miền Tây Bắc để bảo vệ vùng địa đầu Tổ quốc. Các chiến dịch ác liệt ở trong Nam, ngoài Bắc, miền Trung, kể cả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, tráng sĩ Thu Bồn từng lăn lộn trong chiến đấu trận mạc, chống tất cả các kẻ thù xâm lược của đất nước. Đó là chiến công oanh liệt của con người trong dâu bể thời cuộc. Quảxứng đáng là con em của đất nước có nghìn năm dày dạn trong chiến trận giữ nước xưa kia, và tiếp thụ được hạt giống anh hùng truyền thống của bao đời tổ tiên truyền lại cho đến hôm nay. Đúng như câu thơ của Tố Hữu, cuộc đời của thế hệ Thu Bồn cũng là tượng trưng cho số phận của dân tộc:

Có lẽ ngàn năm đã dạn dày

Anh hùng xưa để giống hôm nay

Khổ đau nhiều mới  yêu thương lắm

Quen vượt trùng dương, lái vững tay

Một đời chiến đấu, một đời cầm chắc cây súng và cây bút, Thu Bồn như một thách thức hiên ngang của cuộc sống đổi thay, trường kỳ gian khổ ác liệt, và hiện diện như một tồn tại  hào hùng của con người, là tiêu biểu của sức mạnh chiến thắng. Thu Bồn đã “đánh đu cùng dâu bể” trong thời cuộc, là con người nối quá khứ với hiện tại, như nối hoàng hôn với bình minh:

Tôi gối đầu về phía tương lai

Trao võng qua đêm nhìn thấy tương lai

                      (Chiếc võng)

Đó là những câu thơ kiên cường cách mạng và lạc quan rất tiêu biểu từ cuộc đánh võng trên đại ngàn Trường Sơn năm nào.

*

Con người can trường, kiêu hùng ấy cũng là con người ngoan cường, bản lĩnh trong cuộc đời để vượt lên số phận. Chiến trận Thu Bồn tham gia biết bao gian lao, hiểm nghèo, phải đổ máu và đổ mồ hôi thật sự. Là người chiến thắng, nhưng người chiến sĩ ấy cũng là một kiểu nạn nhân của chiến tranh. Trong chừng mực nào đó, thân thể vạm vỡ cường tráng ấy đã thấm nhiễm chất độc màu da cam. Bằng chứng đau xót là hai đứa con trai sinh ra tại chiến trường đều mắc di chứng ấy.

Đứa con trai đầu – Thảo Nguyên, từ hồi 3 tuổi đã bị khoèo chân, phải đập xương bó lại. Năm 16 tuổi, cháu bị bệnh máu trắng, đang độ tuổi lớn, đẹp như một thiên thần, đã ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của đôi vợ chồng trẻ: “Ba chôn con sâu trong lòng đất/ Kỷ niệm đau buồn cuộc chiến đấu của ba”.

Đứa con thứ hai – Băng Ngàn,  là niềm hy vọng duy nhất cũng không tránh được tai ương. Mắc chứng tâm thần, cho đền nay, anh cũng vẫn là một gánh nặng cho những người thân chăm sóc mình.

Là người tài hoa và đào hoa, Thu Bồn đã qua nhiều cuộc tình. Thu Bồn cũng đi qua vài cuộc hôn nhân, nhưng không dám có con lần nữa. Đó là ám ảnh và đe doạ hạnh phúc cuộc đời bất hạnh.

Mối tình đầu sau bao trắc trở đã đem đến hôn nhân hạnh phúc. Vào chiến trường, cả hai người bạn học cũ mới tìm được nhau. Đám cưới chuẩn bị lại bị bom B52 phá tan, coi như cưới xong rồi. Thật tội nghiệp, vì chỉ cần Thủ trưởng đơn vị công nhận, là họ thành đôi. Họ có hai đứa con trai – niềm vui lớn thành nỗi đau đeo đẳng một đời. Rồi họ chia tay nhau. Rất thương vợ con, nhưng Thu Bồn chỉ biết cầu chúc cho hai mẹ con mạnh khoẻ để dựa vào nhau mà sống.

Cuối đời, Thu Bồn sống với nghệ sĩ Lý Bạch Huệ như bến đỗ cuối cùng suốt mười mấy năm. Lý Bạch Huệ nhận xét Thu Bồn là người chung tình, rất thương yêu vợ con: “Tôi hiểu Thu Bồn chưa bao giờ phụ rẫy người phụ nữ nào, chỉ có người ta bỏ anh”. Nhà thơ đã có những câu hài hước: “Em như ngựa chứng không cương/ Anh tên kỹ mã vết thương đầy người”. Những ngày bệnh, nhà thơ còn viết: “Nhớ mua cho anh một gói nhân tình”. “ Gói”ấy là tất cả: tình yêu, tình bè bạn và tình người.

Xa nhà, xa người thân, Thu Bồn không nguôi nhớ các bậc sinh thành. Tuy nhiên, nhà thơ cũng không có được những tình cảm thường tình của đứa con. Khi anh đi chiến đấu, thì cha anh bị giặc bắt và hy sinh trong nhà tù. Đây là những câu thơ anh viết cho cha mẹ:

Ơi người mẹ bần cùng khốn khổ

Hết Tây rồi đến Mỹ cùm tra

Tây qua rồi Mỹ đốt nhà

Hai mươi năm nhớ bóng cha đi đày

Những vần thơ cuối đời vẫn dành cho mẹ và quê hương: “Tôi về quê như một kẻ lạc loài (...) Tôi muốn tìm lại một hình tượng trong đôi mắt/ Nhưng Mẹ đã âm thầm nằm dưới đất sâu”.

Có những đám tang người thân mà Thu Bồn không thể dự. Lại có dăm bảy người phụ nữ mặc bộ đồ tang đen đến nhìn mặt nhà thơ lần cuối. Đó là những nghịch lý, nghịch cảnh đã diễn ra có thực trên đời.

Cuộc vĩnh biệt của nhà thơ cũng trong cơn dông bão như lời tiên tri:

Dông bão đầy trời và chớp giật

Có vào đây soi sáng “cuộc trường chinh”

“Cuộc trường chinh” ở đây là trong chiến đấu và cả cuộc chiến lâu dài, gian khổ trong sinh hoạt đời thường. Trong cảnh khó khăn của chiến tranh và ngay cả khi hoà bình, gia cảnh Thu Bồn cũng mang nét tương tự. Chưa bao giờ sống sung túc, nhưng vẫn hào phóng dốc túi cho việc nghĩa, việc tình với bè bạn và người thân… Với Thu Bồn, câu thơ của Xuân Diệu đã vận vào đời như một nghiệp chướng: “Cơm áo không đùa với khách thơ”.

Thu Bồn khuyến khích Lý Bạch Huệ theo đuổi nghệ thuật, nhưng nghệ sĩ lại bỏ diễn, chuyển sang buôn bán để sinh sống. Bán đủ thứ, từ dầu thơm, cà vạt đến phân bón. Cuối năm đi bán lịch: “Mặt trời còn ngủ em đi/ Em không bán lịch, lấy gì nuôi thân”. Nghệ sĩ phải đi bán sách của Thu Bồn, phải đến nhà xuất bản xin in thêm rồi đi bán khắp nơi, và kiếm tiền trả lại sau. Bà kể, “Có lần tôi lên trường nội trú ở Pleiku bán sách, nhưng thấy trường nghèo quá, tôi thay mặt Thu Bồn ký tặng luôn cho trường hai cuốn sách đó. Khi tôi về thành phố mấy tháng sau, nhận được bưu phiếu 200.000đ nhà trường gửi trả vì họ biết Thu Bồn sống khó khăn. Thu Bồn cầm 200.000đ đó khóc ròng” (Cát Vũ, Người vợ cuối cùng của nhà thơ Thu Bồn nói về chồng, http://phunuonline.info).

Tuy nhiên, tình nghĩa với bạn bè đã nhận được sự đền đáp thật đẹp đẽ. Nhiều năm sau khi Thu Bồn mất, đồng nghiệp văn chương đã tài trợ để in nhiều tuyển tập văn, thơ và còn quyên góp tiền làm quỹ học bổng mang tên Thu Bồn cho trường học nơi quê nhà. Chỉ có một ước vọng giản dị, tự nhiên là có một nơi cư ngụ, một cơ ngơi khiêm tốn ở quê hương Điện Bàn, Quảng Nam của nhà thơ thì không thể thành hiện thực. Mặc dù quê hương tôn vinh và ưu ái nhà thơ, nhưng không hề có chút gì, dù một ngôi nhà, một mảnh đất nhỏ tượng trưng.

Vào cuối đời ở thành phố Sài Gòn, Thu Bồn kiếm được mảnh đất, tự tay khai phá, trồng trọt, và đã tạo dựng được một ngôi nhà với sự góp tiền và góp ý tưởng của bạn bè bên cạnh Khu du lịch suối Lồ Ô. Tự tay đốn gỗ, chặt cây và ken buộc thành nhà, thành cửa. Bao năm rồi, đó là một câu lạc bộ của tao nhân, mặc khách văn chương một thời. Đó cũng là một quán cà phê. Tuy nhiên, cơ ngơi này đã thay tên đổi chủ, trao đi bán lại, mà đứa con trai duy nhất còn lại cũng không được biết, và dĩ nhiên cũng chẳng được hưởng chút gì gọi là thơm thảo. Thu Bồn dưới suối vàng chắc chắn lại thêm đau lần nữa?

Nhưng có nỗi đau tinh thần khi sống vẫn chưa được giải toả thấu đáo. Áy là chuyện nhà thơ cũng từng bị “tai nạn nghề nghiệp” như một số bạn bè danh tiếng… trong đó có chuyện Nhà thơ được Giải thưởng Nhà nước từ năm 2001, vậy mà, đợt trao giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hồ Chí Minh vừa qua, cũng bị xem đi, xét lại nhiều lần. Mãi đến lúc dư luận văn đoàn lên tiếng ủng hộ,  mới trót lọt. Âu đó cũng là cuộc “đánh đu cùng dâu bể” lần cuối cùng trong cuộc đời để kết thúc một sự nghiệp đã khép lại khi ra đi mãi mãi …

Vinh quang đấy nhưng  nhọc nhằn thay!

Ngôi mộ Thu Bồn được xây trang trọng trong nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh bởi tiền phúng điếu của bạn bè. Có câu thơ được khắc trên bia mộ :

Rồi mai mưa gió qua đây

Anh còn ở với cỏ cây, em về…

Cô đơn vĩnh viễn, nhưng vẫn sống mãi trong tình yêu thương của bạn bè. Đó là Thu Bồn.

*

Đã 15 năm trôi qua kể từ ngày Thu Bồn ra đi (2003–2018).

15 năm chưa phải là một thời gian lâu dài trong lịch sử, nhưng cũng đã đủ để nhìn lại và suy nghiệm một cuộc đời. Như Thuý Kiều – “nổi, chìm kiếp sống lênh đênh” (Tố Hữu) – qua 15 năm đã phải trải qua quãng đời để nhìn thấy “cõi người ta”. Đó là khoảng thời gian sống đủ cảnh trầm luân, đủ vinh nhục, nỗi buồn và đau đớn cho thân phận và thời thế.

Một miền đất Việt Bắc 15 năm: “Mười lăm năm ấy ai quên/ Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà”. Đây cũng là nơi trải bao diễn biến oai hùng chiến đấu và thắm thiết nghĩa tình: “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” đủ đắng cay, ngọt bùi cuộc đời và nhân thế. Thời đại mới với một ngày bằng bao nhiêu năm có biết bao đảo lộn biến hoá  tốc độ kỳ diệu  khó tưởng tượng nổi. Mười lăm năm cũng đã đủ để chiêm nghiệm một đời Thu Bồn qua dâu bể thời cuộc và thân phận thi sĩ. Trong tâm trí các thế hệ bạn đọc ngưỡng mộ, luôn vẫn là hình ảnh một nhà thơ kiên cường, nghị lực ghê gớm, cũng là một con người vô cùng gan dạ, quả cảm, một đời sống và viết.

Trên Chiếc võng số phận, đó cũng là cuộc “đánh võng” hay “đánh đu – cùng dâu bể”, tài giỏi và  ngoạn mục đã thăng hoa cùng chiến công và chiến tích rực rỡ về sống, chiến đấu và viết.

Nguồn Văn nghệ số 27/2018

 

Tin liên quan

Cảm nhận bài thơ Mẹ tôi chửi kẻ trộm

Ở tỉnh lẻ báo chí về muộn, mãi đến gần đây thấy trên mạng facebook có nhiều ý kiến khác nhau về bài ...

Hoàng Nhuận Cầm – giọng thơ giầu cảm xúc

Sau sự ra đi của nhà văn nổi tiếng Nguyễn Huy Thiệp, làng văn lại bất ngờ nhận thêm một tin buồn, Nh ...

“Bánh" fantasy, sci-fi có dễ làm?

Cuối cùng thì như ý kiến của đại diện các đơn vị xuất bản, vấn đề mấu chốt vẫn là câu chuyện chất lư ...

Đọc sách để tạo ra những giá trị nghệ thuật mới

Là người viết, nhưng nhà văn cũng là người đọc. Nhân Ngày sách Việt Nam 21-4, tôn vinh sách, chúng t ...

Văn học về chiến tranh cách mạng: Nhiều nhưng chưa đủ

Hội Nhà văn TPHCM vừa kết hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tây Ninh tổ chức tọa đàm “Nhà văn sống ...

Fantasy, sci-fi Việt: Các “bà đỡ” lên tiếng*

Theo nhìn nhận từ một số đơn vị làm sách, dù đã có nhiều nỗ lực nhưng bản thảo văn học fantasy, sci- ...

Và bạn đời của thi nhân là sự cô đơn*

Đây là một tuyển thơ đầy đặn gồm 415 trang, bìa trang nhã, trình bày đẹp. Ghi lại hành trình Thơ c ...

Một cách tiếp cận mới về thơ

Thơ Hồ Thế Hà & giấc mơ cỏ hát là chuyên luận thứ hai của Hoàng Thụy Anh vừa mới được ...

Lặng nghe giọt sương rơi

Niê Thanh Mai là tác giả văn xuôi người Ê Đê khá nổi bật ở Tây Nguyên. Chị vừa viết, lại vừa làm côn ...

Đi để lòng mình tĩnh lại

Cuộc sống không ngừng dịch chuyển. Không ai có thể thống kê được hết các chuyến đi trong cuộc đời mì ...

“Nghệ thuật thứ bảy” có chuyển thể được nỗi lòng đại thi hào Nguyễn Du?

Năm 1923, công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương (Indochine Films et Cinémas) của người Pháp đã chuyể ...

“Ném ngói dẫn ngọc” cùng Chu Văn Sơn

Trên trang cá nhân của mình tháng 4/2019, Vũ Khánh đưa lại bài Chu Văn Sơn viết về Trần Hòa Bình và ...