Tết chốn biên thùy


Từ đất Mũi Cà Mau tới địa đầu Lũng Cú, từ rừng dương Trà Cổ đến trảng bàng Hà Tiên… có thể nói thiên nhiện đã ưu ái cho Việt Nam một giang sơn gấm vóc đầy kì vĩ và tươi đẹp. Cùng với đó là các giá trị truyền thống ngàn năm nay vẫn bền bỉ chảy trong huyết quản của cộng đồng 54 dân tộc anh em, tạo nên những nếp sống và nền văn hóa hết sức đặc thù và đa dạng. Đặc biệt là vào ngày tết, mỗi dân tộc lại có một phong tục đầy độc đáo và đôi khi… kỳ lạ. Để người thơ bật thốt “Đường biên cương đường hoa đường mật/ Khắc vào không gian một hình dung rất thực/ Đường nào ngọt bền bằng lòng dạ biên cương".

 

Minh họa của LÊ TRÍ DŨNG 

Dưới chân ngọn cờ Lũng Cú, hàng trăm năm nay, dân tộc Lô Lô luôn được coi là những người có công đầu khai phá vùng đất Đồng Văn. Chính vì thế ngày nay, các dân tộc khác ở Đồng Văn như Mông, Dao, Tày, Hoa… vẫn thường tổ chức cúng ma Lô Lô để tỏ lòng biết ơn người đi trước. Với người Lô Lô thì từ khi khai thiên lập đại đã có trống đồng, vì vậy, trống đồng là biểu tượng của vũ trụ, của con người. Trống chỉ được dùng vào việc tế trời đất trong ngày tết, cúng ma cho người chết và nhảy múa trong ngày Lễ cúng tổ tiên vào tháng 7 âm lịch. Âm hưởng trầm vang của trống có ảnh hưởng rất lớn đến phong tục tập quán, và dân ca, dân vũ. Trong ngày Tết vui, người Lô Lô mới đem những chiếc trống cổ cùng những vũ điệu nguyên sơ ra để trình diễn như một phức điệu đẹp của núi rừng, của tấm lòng tôn kính tổ tiên và cùng cầu mong cho mọi gia đình hạnh phúc, mạnh khỏe.

Người già ở Séo Lủng – cái bản nhỏ còn hơn một hạt bụi trên quả địa cầu của người Mông nằm nơi chóp nón của vùng biên cương cực Bắc, nhẩn nha đọc hai câu dân ca khi nhận xét về người hàng xóm đã đến “khai thiên lập địa” vùng đất này: “Mưa nhẹ trên đường phố/ Chó sủa Lô Lô về” với hàm ý ám chỉ đường ăn nết ở nhẹ nhàng, khéo léo và hay mỉm cười của những người Lô Lô trong vùng.‎ Từ chiều 30 Tết, các gia đình Lô Lô đã tục niêm phong tất cả đồ đạc và dán giấy quét màu vàng hay màu bạc để các vật này được nghỉ tết. Từ cái cuốc, cái xẻng, con dao, cái rựa, cái cày, cái bừa, cây cối quanh nhà, chuồng trại… đều được niêm phong, nhất định không ai được động vào trong ba ngày tết.

Người Lô Lô có quan niệm vào thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, nếu có thể mang về nhà mình một chút phẩm vật cầu may thì năm đó gia đình sẽ hanh thông, thuận lợi, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ. Chính vì lẽ đó mà khi gần tới khắc sang canh, một ai đó trong gia đình sẽ ra ngoài để “khù mi”, tức là “ăn trộm chơi” hay “ăn trộm lấy may”. Vật được trộm không cần có giá trị lớn, cũng không lấy số lượng nhiều mà chủ yếu mang tính biểu tượng của tâm linh, gắn với đời sống nông nghiệp của đồng bào như củ tỏi, bắp ngô, thanh củi, bó rơm…

Giữa đêm đen 30, nhà nhà đi trộm, người người đi trộm một cách lặng lẽ. Họ đi qua nhau như thể không nhìn thấy, không chào hỏi hay bày tỏ thái độ gì. Thậm chí chủ nương rẫy phát hiện có người ăn trộm hoa màu nhà mình nếu không quá nhiều thì cũng sẽ vờ như không biết. Người Lô Lô Chải có quy ước là sẽ lấy trộm 12 thứ tượng trưng cho 12 tháng, nếu không may bị phát hiện khi đang trộm vật phẩm thứ bao nhiêu ứng với tháng nào thì năm mới sẽ tránh không làm việc lớn vào tháng đó. Họ cũng kiêng nhổ cây bị đứt gẫy nên nếu gặp phải cây có bộ rễ quá chắc thì họ sẽ bỏ đi tìm cây khác. Còn người Lô Lô đen và Lô Lô hoa thì quan niệm số 3 là số may mắn nên họ thường trộm mỗi thứ ba cái.

Cũng trên cao nguyên đá, dải đất Phố Là, Phố Bảng lại là quê hương của cộng đồng người Pu Péo với số dân ít ỏi chỉ hơn 600 người. Những căn nhà của người Pu Péo có nhiều điểm tương đồng với nhà trình tường của người Mông, người Hoa anh em. Nhưng đường nét kiến trúc và cách bài trí của người Pu Péo đã khiến ngôi nhà có nhiều công năng hơn. Họ tự hoàn thiện cho mình một lối kiến trúc chuyên biệt phân bố không gian sinh hoạt trong một tầng nhà duy nhất một cách rất khoa học. Các cột đá kê dưới chân cửa thường được khắc hình con gà trống và mặt trời là biểu tượng cho âm dương tương hợp là nguồn gốc của sự tăng trưởng và phồn thịnh của con người cùng vạn vật trong vũ trụ. Có lẽ cũng bởi quan niệm này nên vào lúc Giao thừa, người Pu Péo còn có tục “đón giọng gà” hay “cướp giọng gà” để cầu mong may mắn cho năm mới.

Dù định cư đã nhiều đời, song bà con Pu Péo vẫn giữ thói quen sử dụng lịch nhà Chu, mỗi giáp có 12 năm, mỗi năm chia thành 12 tháng, mỗi tháng có 29 ngày hoặc 30 ngày, mỗi ngày có 12 giờ. Tuy cách tính khác nhau nhưng hoàn toàn khớp với cách tính lịch âm của chúng ta hiện nay. Khi chúng tôi đến Phố Là vừa lúc cụ Củng Diu Suyền – tính toán đã đến ngày 23 tháng chạp âm lịch, là ngày mời tổ tiên về ăn tết. Vì thế, cụ rủ chúng tôi cùng lên rừng lấy cây “suy sáng phù” để treo trước cửa nhà. Đây là một loại cỏ thơm, có thể dùng để chữa chướng bụng. Treo như vậy với mục đích chống tà ma, ngoài tổ tiên của gia đình ra thì những linh hồn lạ hoặc ma quỷ không thể vào nhà.

Cụ Suyền kể, sắp sang năm mới, nhà nào nhà nấy phải cắt cử người canh chừng đám gà trống của nhà mình. Tới giao thừa, thì đốt pháo hoặc khua gậy vào chuồng gà để lũ gà giật mình táo tác gáy. Chỉ chờ có thế, cả bản nhà nọ tiếp nhà kia nối giọng hát vang bài hát mừng năm mới để át tiếng gáy của gà. Vì quan niệm tiếng gà đánh thức ông mặt trời, để vạn vật âm dương giao hòa nên ai  át được tiếng gà thì sang năm mới sẽ hát hay, gặp nhiều may mắn, hạnh phúc. Sau đó, là lễ cúng mừng năm mới với lễ vật là “mí uột lìn” – bánh chưng trắng mừng năm mới đối với “mí uột lặng” bánh chưng đen được ăn vào tối 29 Tết để kết thúc năm cũ. Sáng mùng 1, những chàng trai cô gái Pu Péo trong những bộ đồ đẹp nhất sẽ cùng nhau ra suối gánh “nước vàng, nước bạc”. Họ đốt hương cầu nguyện trước khi lấy nước, rồi rải một lớp giấy vàng, 1 lớp giấy bạc vào hai thùng để gánh về. Có lẽ quan niệm của họ là luôn trân quý những gì mà thiên nhiên ban tặng nên rừng và nguồn nước của người Pu Péo được giữ gìn, bảo vệ rất tốt.

Câu chuyện kể và dứt cũng là lúc bữa cơm ngày cuối năm lên mâm. Những lát thảo quả muối thơm nồng, miếng thịt lợn gác bếp, đĩa đậu trắng và bát muối dầm ớt cay xè… dưới đôi tay khéo của vợ trưởng thôn Củng Phú Xuẩn đã được bày. “Mừng mùa lúa mới, mừng con cháu về đây sum họp, chào anh em, đồng chí hôm nay về đây mừng cho gia đình năm nay nhiều vận may. Mời nâng chén rượu này để cùng nhau gắn bó, đoàn kết…” bài dân ca được bí thư Cháng Mí Hồ hát trong bữa cơm khiến không gian thêm ấm áp, tình quân dân ngày càng bền chặt, cho biên cương no ấm, vững vàng….

Ở nơi hút tít đầu nguồn con sông Đà xanh thẳm trên biên giới Lai Châu, ngày tết của đồng bào Hà Nhì cũng vô cùng độc đáo với những phong tục đầy nhân văn. Người Hà Nhì dù có đói kém đến đâu cũng bắt buộc phải lo cho được miếng thịt lợn dâng cúng tổ tiên nên nhiều gia đình ăn củ mài, cơm nếp quanh năm, nhưng nhất định phải tự nuôi một con lơn đực thiến từ đầu năm. Nghệ nhân Pờ Lóng Tơ ở xã Mù Cả, huyện Mường Tè nói rằng, khi mổ lợn ăn Tết, người ta phải hết sức cận thẩn để lấy nguyên vẹn lá gan ra ngoài. Giống như người Kinh thường có ctucj xem bói chân gà, người Hà Nhì lại căn cứ vào lá gan để đoán cát hung trong năm mới. Nếu lá gan lợn lành lặn, màu sắc tươi tốt, mật lợn phải căng đầy thì năm đó gia đình chăn nuôi phát triển, anh em con cháu sẽ vui vẻ thuận hòa.

Đối với người Hà Nhì ở Điện Biên, thì đêm giao thừa sẽ là đêm cả bản cùng giã gạo làm bánh giày, bánh trôi cho đến khi bình minh ló rạng. Canh ba ngày mới, các gia đình thu nhau xem nhà nào mổ lợn xong sớm nhất, chọc tiết lợn ngọt nhất thì năm mới sẽ dồi dào tài lộc, con cháu đông đàn dài lũ. Khi thịt lợn được làm tinh tươm, chia rạch ròi ba phần xương, thịt và mỡ thì cũng là lúc xửng hấp bánh giày, bánh trôi vừa chín tới. Chiếc bánh đầu tiên được đem cúng mời tổ tiên, rồi mới chia cho mọi người cùng ăn. Bánh dày được ăn cùng lạp xườn nên có phong vị thật khó tả, nồng ấm bởi được kết hợp từ nhiều loại thảo mộc. Bánh trôi chấm với mật ong rừng có vị ngọt tinh khiết đến mức còn thoang thoảng hàng chục mùi phấn hoa rừng.

Trong ngày tết, nhất định thanh niên, con trẻ phải được người già hát cho nghe sử thi P’huỳ ca Na ca. Đó là câu chuyện kể về sự chiến đầu dũng mãnh của người Hà Nhì chống lại người Hán rất hấp dẫn và nhiều lần nhắc đi nhắc lại một mệnh đề như khẳng định quyết tâm giữ đất của người Hà Nhì. Tác phẩm này biểu đạt nhiều thông tin quan trọng về xã hội, truyền thống nông nghiệp và phong tục tập quán của cộng đồng người này. Tín ngưỡng của đồng bào cũng chỉ rõ họ kiêng ăn thịt mèo trong năm mới bởi họ quan niệm mèo có họ với hổ nên nếu giết mèo hổ sẽ trả thù, gây họa cho cả bản.

Giống như nhiều dân tộc khác, người Hà Nhì cũng phải “làm lý” để xin phép tổ tiên, thần linh trước khi hát P’huỳ ca Na ca. Một mâm cơm trên đó nhất thiết cần có một con gà và hai chén rượu được dâng lên, sau khi khấn vái mời bề trên về ăn thịt, uống rượu và nghe con cháu hát, người chủ lễ đồng thời là người hát sẽ ngân nga từ đầu sử thi. Vừa uống vừa hát, vừa đưa tay ra điệu bộ và diễn nét mặt theo nội dung lời hát, khi mệt, sẽ có người khác đỡ lời để câu hát luôn liền điệu, liền vần.

Một phong tục rất “đáng yêu” khác là năm mới, người con gái Hà Nhì chưa chồng được quyền chọn người con trai mình thích để trao gửi “khước xuân” mà không đòi hỏi hay ràng buộc bất cứ trách nhiệm, điều kiện gì. Chàng trai được chọn sẽ là người đàn ông đầu tiên của cô gái, và nếu sau lần tìm “khước xuân” ấy có để lại những hạt giống cho người Hà Nhì, thì cả bản sẽ cùng quý yêu đứa trẻ ấy, và người chồng sau này của cô gái cũng sẽ yêu thương, chăm sóc nó như con ruột.

Phía ngoại biên Hà Tĩnh, trên vùng đất Thoong Pẹ của nước bạn Lào, có một cộng đồng các dân tộc Lào gốc Việt cũng đón năm mới theo phong tục Việt cùng với tết Pi May truyền thống của Lào. Dẫu đã mai một nhiều, song cũng rộn ràng làm mứt, đùm bánh chưng, bánh tét và quan trọng hơn cả là dứt khoát không thể thiếu mâm cỗ cúng tổ tiên lúc giao thừa. Trong những ngày Tết Việt, bà con ở các bản thường tụ tập nhau lại để ăn uống và chơi đùa trong suốt một tuần. Ai nấy đều mặc quần áo đẹp để đến thăm nhau. Trẻ con được nhận tiền mừng tuổi. Ở các bản tổ chức dựng cây nêu, cây đu ở bãi đất trống hay tập hợp người vui kéo co, múa sạp. Trước cửa các gia đình thường treo cờ đỏ búa liềm - biểu tượng của các nước khối xã hội chủ nghĩa. Nước bạn không cấm pháo nên bà con đốt pháo tung trời, những ngày cuối năm chúng tôi có mặt ở Na Pê, đã thấy tiếng pháo đì đẹt vang khắp nơi như thể báo rằng, bản chúng tôi sắp đón Tết Việt.

Chúng tôi gặp được Thào Khắt, một ông chủ nhỏ chuyên bán hàng tạp phẩm ngay mặt đường và là thành viên ban lãnh đạo phụ trách lực lượng dân quân và an ninh của chín bản của huyện Lạc Xao. Thào Khắt có rất nhiều anh em sống ở quanh đây. Cô em gái ở Lạc Xao lấy chồng người Lào không làm tết theo phong tục Việt nhưng ngày tết Việt vẫn làm “bun”, làm “sử” theo phong tục của người Lào để mời gia đình chồng và bạn bè đến chung vui. Vợ của Thào Khắt cũng là người Lào nhưng lấy chồng thì phải theo chồng, giờ chị làm cơm cúng, đùm bánh chưng khéo léo không kém người Việt.

Với vốn tiếng Việt đủ để giao tiếp, anh cho biết gia đình anh vẫn giữ được mối dây liên lạc với người thân ở quê cũ. Vào những năm lịch âm của Lào muộn hơn nước ta, thì các gia đình thường rủ nhau về Việt Nam ăn tết. Năm nào lịch âm của hai nước giống nhau thì đành chịu. “Vì mình về thì lấy ai cúng con ma bên này” - Thào Khắt bảo. Tôi thấy anh thắp hương và lầm rầm khấn theo tiếng Lào bèn hỏi vì sao không khấn bằng tiếng Việt. Anh bảo: “Mình đang ở nước Lào, muốn bố mẹ hắn về ăn cơm cúng của mình thì phải khấn tiếng Lào, có thế người cai quản con ma Lào mới cho phép về mà. Nhưng mình vẫn dạy con cháu mình tiếng Việt, phải nhớ tổ tiên mình là người Việt chứ”.

Trên dọc dài biên giới, tôi đã đi và mê đắm thưởng thức các điệu dân ca, dân vũ ngày tết cùng các phong tục đầy bất ngờ, chứa đựng nhân sinh quan của các dân tộc anh em, chợt như mình đã tìm thấy trong lịch sử, trong tự nhiên, trong văn hóa, trong con người nơi đây bao điều để suy ngẫm về lẽ đời, về cuộc sống giữa thế giới đang rối bời xung đột hôm nay. Và vỡ ra một điều giản dị rằng, dân tộc nào cũng vậy, dù nhỏ bé hay hùng mạnh, dù phồn thịnh hay nghèo khó thì ngày tết vẫn luôn là ngày đoàn viên, ngày nguyện cầu cho quốc thái dân an, xóm làng bình yên, vạn vật sinh sôi, phát triển.

Nguồn Văn nghệ số 6+7+8/2021

Tin liên quan

Mây núi Kỳ Sơn

Huyện miền núi rẻo cao Kỳ Sơn, Nghệ An, có một địa danh nhiều người biết nhưng không dễ đến được, đó ...

Con Pai ro mhai ra đi, người S’Tiêng ở lại

Trở lại nơi vùng đất cách xa nhất trung tâm tỉnh Lâm Đồng (xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên), cảm xúc ...

Cõi Phật

Bài thơ gồm 3 khổ thơ mỗi khổ 4 câu theo thể 5 chữ (từ). Tứ thơ khá rõ như tên đề của bài thơ là bàn ...

Trở lại miền đảo xa

Ra đến đảo, lần nào cũng thế, khi đặt chân lên cầu tàu ở đảo, lòng tôi đã dâng đầy cảm xúc, một Cô T ...

Người đại biểu Quốc hội ở xóm tôi

Bà Hoàng Thị Thiệu sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo tại xóm Bắc, làng Minh Lệ, xã Quảng ...

Thơ đoạt giải cuộc thi Thơ báo Văn nghệ (1019 - 2020)

TÒNG VĂN HÂN Mẹ tôi chửi kẻ trộm Những lần gà nhà tôi bị mất Mẹ tôi chửi: - Cái đứa trộm g ...

Gió Lào

Quê tôi nhiều đặc sản, một trong những đặc sản được thiên nhiên ban tặng là gió Lào. Mỗi năm, vào đầ ...

Từ một bài thơ đến việc đặt tên cho một thị trấn

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm Vinh năm 1975, tôi được phân công về dạy học ở Trường ...

Những chuyến đi và nền tảng cho thi ca

Chúng tôi thường đùa là nữ thi sĩ Việt Nam có 3 cái vai: vai gánh công việc, vai gánh gi ...

Những người giữ hồn làng

Thiên hạ bảo, người ta phát hờn ghen với người làng Gang của tôi ở cái xã Thụy Ninh thuộc huyện Thái ...

Mưa đầu mùa

Sớm nay, trong cái vắng tanh của con ngõ, tôi gõ nhẹ vào cái hộp gỗ đựng trà, nghe tiếng rỗng không. ...

Tiếng hát yêu đời

...Trịnh Công Sơn là người thuộc thế hệ của những con người bị ném vào lò lửa của chiến tranh khốc l ...