“...Không thể đứng ngoài mà phải ở bên trong…”


KỶ NIỆM 75 NĂM HỘI NGHỊ VĂN HÓA VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT (1946-2021)

Sáng ngày 24/11/1946, trong khi trên nhiều đường phố chính của Hà Nội, các loại xe cơ giới, xe bọc thép cùng các loại sắc lính của thực dân Pháp trang bị nhiều loại vũ khí đi lại nghênh ngang, khiêu khích, chuẩn bị gây chiến để chiếm nước ta một lần nữa, tại Nhà hát Lớn (Hà Nội), hơn 200 văn nghệ sĩ - trí thức khắp Bắc – Trung - Nam đã tham dự Hội nghị Văn hóa Việt Nam lần thứ nhất. Hội nghị nhằm huy động mọi đề xuất, sáng kiến chấn hưng văn hóa dân tộc. Chương trình hội nghị dự kiến họp 3 ngày nhưng do tình hình chiến sự căng thẳng nên chỉ rút lại trong một ngày. Đang phải lo giải quyết trăm ngàn công việc, khi thù trong giặc ngoài ngổn ngang, nhà nước mới còn nhiều việc cần trực tiếp giải quyết... nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tới dự và có bài phát biểu dài đến 40 phút. Người tha thiết mong muốn “nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”; hãy học tập cái hay của văn hóa Đông - Tây để tạo ra một “nền văn hóa thuần túy Việt Nam” để hợp với tinh thần dân chủ; phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”; văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có “tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng”. Chính tại diễn đàn này, Người đã khẳng định: “Số phận dân ta là ở trong tay dân ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Tôi mong chúng ta đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”(1)

Tháng 3/1948, báo “Văn nghệ” ra số đầu tiên ở Việt Bắc. Trên măng-sét của báo có biểu tượng gồm 2 chữ V và n lồng vào nhau giữa một khung cửa mở, bên trái là bầu trời với ngôi sao năm cánh. Từ đó, biểu tượng này thường xuất hiện như một niềm tự hảo của những văn nghệ sĩ kháng chiến. Trong ảnh là cổng chào ở lối vào một sự kiện văn nghệ, với logo Văn nghệ nổi tiếng này. Ảnh: Trần Văn Lưu 

Thời gian tổ chức hội nghị chỉ một ngày nhưng nhiều ý kiến tâm huyết của các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ đã biểu thị quyết tâm xây dựng một nền văn hóa mới. Chúng ta đều biết, ngay từ năm 1943, Tổ chức Văn hóa Cứu quốc đã ra đời, với bản Đề cương văn hóa lịch sử, nêu rõ những tính chất cơ bản của nền văn hóa mới: dân tộc - khoa học - đại chúng. Một số văn nghệ sĩ nổi tiếng đã có mặt, là nòng cốt cho mặt trận văn hóa mới. Non một tháng sau, toàn quốc kháng chiến, hầu hết văn nghệ sĩ tham gia hội nghị đã có mặt ở các vùng hậu cứ kháng chiến. Nhà thơ Thanh Tịnh từ Huế, một số văn nghệ sĩ Nam Bộ như Lưu Hữu Phước, Diệp Minh Châu... cũng không kịp trở về nên ở lại và theo các cơ quan lên Việt Bắc. Sau những ngày tùy nghi di tản, các địa bàn bắt đầu tập họp để hoạt động, hình thành nên các trung tâm như Khu III, Khu IV, Nam Trung Bộ, Nam Bộ, Khu X, các cơ quan Dân chính, đơn vị quân đội dần được tổ chức; khá nhiều báo, tạp chí được ra đời. Phần thơ văn luôn được chú ý, bên cạnh tin tức chiến sự và tăng gia sản xuất.

Non một năm sau “Đêm ra đi đất trời bốc lửa/ Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng” (Chính Hữu), ngày 3/10/1947, một số văn nghệ sĩ ở Đại Từ - Thái Nguyên đã họp bàn về việc thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam và đã bầu ra Ban Chấp hành lâm thời gồm Nhà phê bình Hoài Thanh (Tổng thư ký), nhà thơ Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu (văn học), Tô Ngọc Vân (mĩ thuật), Lưu Hữu Phước (âm nhạc ).

Ngày 6/4/1948, Ban Chấp hành lâm thời triệu tập hội nghị lần thứ 2 để Thông qua Điều lệ của Hội và kiện toàn lại tổ chức và củng cố tờ báo của Hội. Từ tháng 3/1948, Tạp chí Văn nghệ - cơ quan ngôn luận Hội Văn nghệ Việt Nam bắt đầu ra số đầu tiên…

Đầu năm 1948, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn phòng ngự, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cuộc Thi đua Ái quốc. Các đoàn thể quần chúng lần lượt tiến hành các hội nghị, củng cố tổ chức, phát động thi đua sản xuất và giết giặc. Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức tại xã Đào Giã, huyện Thanh Ba - Phú Thọ trong 5 ngày, từ 16-20/7/1948, với hơn 200 đại biểu trí thức toàn quốc. Hội nghị được nhận thư của Hồ Chủ tịch. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng, trình bày bản báo cáo lịch sử Chủ nghĩa Marx và văn hóa Việt Nam. Đây là văn kiện hoàn chỉnh đầu tiên về đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng, cụ thể hóa và phát triển những luận điểm cơ bản của bản Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943. Đại hội đã chính thức thành lập Hội Văn hóa Việt Nam. Hội nghị nhất trí bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự… Tiếp đó, cũng gần địa điểm này, hơn 80 văn nghệ sĩ đã dự Hội nghị Văn nghệ toàn quốc lần đầu tiên (từ 23-25 tháng 7 năm 1948), có ý nghĩa như một Đại hội thành lập chính thức Hội Văn nghệ Việt Nam, ngày 25/7/1948. Bài tường thuật của nhà thơ Xuân Diệu in trong Tạp chí Văn nghệ số 4 ra tháng 8/1948, mô tả: “Thật là một cái vườn bách… nghệ, trong đó, mỗi người một vẻ, thiếu tiền thì thiếu, chứ cá tính thì thật đầy tràn…”.

Đại hội đã thống nhất bầu Ủy ban Chấp hành Hội Văn nghệ gồm: Thường vụ: Nguyễn Tuân (Tổng thư ký), Tô Hoài (Phó Tổng thư ký); các ủy viên: Võ Đức Diên (kinh tế), Ngô Quang Châu (quản trị), Xuân Diệu (tổ chức và kiểm tra). Đại biểu các ngành: Trần Văn Cẩn (mĩ thuật), Thế Lữ (sân khấu), Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước (âm nhạc). Đại biểu các khu: Ngô Tất Tố (Khu I), Lê Hữu Kiều (Sơn Tùng - Khu III), Trương Tửu, Lưu Trọng Lư (Khu IV), Tạ Mỹ Duật (Khu X), Nguyễn Đỗ Cung (Nam phần Trung Bộ), Hoàng Xuân Nhị, Huỳnh Văn Gấm (Nam Bộ)… Cũng trong bài tường thuật trên, nhà thơ Xuân Diệu nhận xét: “Ban Chấp hành Hội Văn nghệ: 17 người đã bầu xong trong một không khí hòa vui chưa từng thấy… Hội nghị thanh thản bầu anh Nguyễn Tuân làm Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam. Nguyễn cảm ơn: Tôi quả quyết nhận lấy bổn phận mà Hội nghị giao cho vì tôi muốn tập cho tôi nhận lấy những trách nhiệm. Câu nói đánh dấu cho cuộc chuyển sang “giai đoạn thứ hai” được toàn thể hoan hô”.

Hội nghị nằm trong phong trào Thi đua Ái quốc nên có một nội dung quan trọng là phát động cuộc thi dưới khẩu hiệu: “Văn, Họa, Nhạc, Kịch thi đua sáng tác”. Có các bản giao kèo được ký giữa các tập thể và các cá nhân. Giáo sư Đặng Thai Mai (Hội trưởng Hội Văn hóa Việt Nam), Đoàn Văn nghệ Khu IV, Đoàn Sân khấu Việt Nam, Đoàn Kiến trúc Việt Nam vừa được thành lập trong đại hội đã treo các giải thưởng có giá trị bằng tiền. Độc đáo nhất là nhà văn Nguyên Hồng, từ ngày kháng chiến đưa gia đình về ấp Cầu Đen (còn có tên là Ấp Đồi Cháy) cày ruộng, chăn nuôi, treo thưởng hai gánh thóc và hai con gà cho một bài thơ hay, một truyện ngắn có giá trị. Cũng trong đại hội, nhiều nhóm nghệ sĩ đã ký kết thi đua với những con số tác phẩm trong thời gian cụ thể. Thơ: Huy Cận, Xuân Diệu, Tố Hữu, Xuân Sanh, Anh Thơ, Lê Đại Thanh, Trần Huyền Trân, Thanh Tịnh, Chế Lan Viên - hẹn đến cuối 1948, mỗi người làm được 5 bài thơ, trong đó ít nhất, có 1 bài thơ hay; những bài khá nhất sẽ in một tập thơ chung. Các ngành/ lĩnh vực nhạc, họa, kịch, tiểu thuyết đều có những tác giả đăng ký những chỉ tiêu tác phẩm cụ thể. Đoàn Văn nghệ Khu IV còn có chỉ tiêu tập thể về số lượng tác phẩm cho các loại hình nghệ thuât. Không chỉ sáng tác mà còn xuất bản, biểu diễn, triển lãm…

Sở dĩ, sau đại hội, vấn đề sáng tác được coi trọng là vì có một thực tế, sau cả ngàn ngày kháng chiến, hầu hết văn nghệ sĩ tham gia mọi công việc, có lòng yêu nước, căm thù bọn xâm lược nhưng vẫn chưa tìm ra tiếng nói nghệ thuật mới mà cuộc sống yêu cầu. Quá trình Nhận đường (tên một bài viết của Nguyễn Đình Thi) gần như đi suốt cuộc kháng chiến 9 năm. Nhà văn hiện thực tiêu biểu nhất của thế kỷ XX, từng có nhiều tác phẩm về những người dân nghèo trong xã hội cũ là Nam Cao (1917-1951 ), trong mấy kỳ Nhật ký ở rừng (Văn nghệ số 6, tháng 10-11 và số 7 tháng 12/1948), đã thể hiện rất rõ nỗi dằn vặt của một nhà văn từng nổi tiếng trong chế độ cũ mà vẫn thấy bất lực trong sáng tác, dù sống gần, sống và làm những việc cuộc kháng chiến yêu cầu một cách tích cực…

Nam Cao là một trong những thành viên đầu tiên của Văn hóa Cứu quốc, từ 1943, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, từng làm Chủ tịch xã ở quê nhà. Kháng chiến toàn quốc, theo các đoàn quân Nam Tiến vào Nam Trung Bộ, viết báo. Trở về công tác ở Ty Văn hóa tỉnh Hà Nam, làm các báo Giữ nước, Cờ Chiến thắng của tỉnh. Năm 1947, làm Thư ký tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, rồi về Hội Văn nghệ Việt Nam, tham gia tòa soạn Tạp chí Văn nghệ. Năm 1950, tham gia Chiến dịch Biên giới. Cuối năm 1951, khi đang đi công tác về thuế nông nghiệp và lấy tài liệu để hoàn thành cuốn tiểu thuyết Định mức thì bị Pháp bắn ở vùng chiêm trũng Ninh Bình. Nấm mộ nhà văn nổi tiếng thành Liệt sĩ vô danh suốt hơn nửa thế kỷ giữa đồng hoang mới được tìm thấy, xác định để đưa về nghĩa trang quê nhà. Nhật ký của ông cho ta biết nhà văn đang trên đường tìm ra nhân vật mới của nền văn học kháng chiến: anh bộ đội Cụ Hồ. Nhà phê bình Hoài Thanh gọi đây là “giai đoạn khai sinh con người kháng chiến”. Nhà văn Nguyễn Công Hoan nói rõ hơn: “Trước kia, thời Pháp thuộc, vai trò người lính hình như không có trong xã hội Việt Nam. Đố ai tìm thấy một bài thơ, một cuốn sách, một bức tranh, một bài hát nào lấy ông quyền khố xanh, khố đỏ làm đầu đề. Nếu như người ta có nói chuyện đến người lính thì chỉ cốt để chế nhạo hoặc oán ghét mà thôi. Vậy mà bây giờ dân chúng yêu người lính, dân chúng coi người lính như ruột thịt trong gia đình...” (Người lính).

Trong Hội nghị Tuyên truyền toàn quốc lần thứ 3, tổ chức vào các ngày 19 đến 22/6/1948, nhà văn Nguyễn Đình Lạp, Trưởng ban Văn nghệ Quân đội Liên khu IV trong báo cáo, sau khi tổng kết văn thơ của bộ đội, đã nói: Thực ra mà nói, các văn nghệ sĩ tự nguyện nhập ngũ là có ý đi tìm lối thoát cho chính bản thân họ, tâm hồn họ. Họ đi tìm một nhân loại linh động nhất, hi sinh nhất, tích cực tranh đấu nhất để mong rũ bỏ cái bế tắc, ngột ngạt của sự sáng tác trong bấy lâu nay. Quả là một bầu trời mới. Họ đã bắt đầu nhận thấy những tia nắng hồng, những ngọn gió mát. Lồng ngực họ đã thở đều đặn, Họ đã sống lại. Và nhiều tác phẩm nho nhỏ đã thấy xuất hiện với những tình cảm đằm thắm.

                 …

Các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Đình Lạp, Thâm Tâm, cùng Trần Đăng, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Thúc Tề, Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, Nguyễn Đình Thư, Tô Ngọc Vân, Ngô Tất Tố… đều không kịp nhìn thấy ngày thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Song những tâm sự, nhận định về sáng tác văn học, nghệ thuật giai đoạn này của chính người trong cuộc cho chúng ta thấy ngay cả trong những thời điểm đất nước khó khăn nhất, Đảng ta đã động viên, tập họp các cá nhân nghệ sĩ hành nghề riêng lẻ, tự do vào những đoàn thể, tổ chức nghề nghiệp, có mục tiêu, lý tưởng xã hội cụ thể, động viên, tạo động lực để họ có nhiều sáng tác nhằm xây dựng một nền văn nghệ mới. Sự “chuyển mình” từ trong từng suy nghĩ của văn nghệ sĩ cho thấy tầm nhìn mang tính chiến lược của Đảng về tổ chức, lý luận và phương pháp... đối với hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật.

Để làm rõ hơn vai trò của văn hóa, văn nghệ và văn nghệ sĩ trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, trong thư gửi các họa sĩ nhân triển lãm mĩ thuật năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa -nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công - nông - binh. Văn học, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.

Có một cứ liệu lịch sử bằng văn bản đặc biệt là ngay từ năm 1949, mở đầu bản Báo cáo về văn thơ bộ đội, Thâm Tâm, tác giả của Tống biệt hành, đã phát hiện: “Hồ Chủ tịch không rảnh việc nước nhưng khi nghe giao thông chạy ngựa đưa tới tin thắng trận liên tiếp, nghe tin du kích đi giết giặc đã quay về với tiếng tù và dưới núi, vị Cha già của chúng ta cũng rung cảm thành thơ. Mà cả những bức thư từ hơn ba năm nay Người gởi cho mọi từng lớp dân chúng thời thường cũng là thơ, những đoạn văn có vần. Chúng ta đọc một lần, không bao giờ quên được…”.

Các văn nghệ sĩ dự Hội nghị Chấp hành mở rộng Hội Văn nghệ Việt Nam tại Việt Bắc tháng 3/1951. Từ phải sang, hàng trước: Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Lân, Nguyễn Đình Thi. Hàng sau: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh, Học Phi, Nguyễn Đỗ Cung. Ảnh: Trần Văn Lưu 

May mắn cho chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là Người Anh hùng Giải phóng dân tộc, mà còn là một Danh nhânVăn hóa được quốc tế tôn vinh, Người đã luôn nêu cao ngọn cờ “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” bằng chính cuộc đời của Người.

Nhìn lại chặng đường 75 năm văn hóa, văn nghệ tham gia vào cuộc cách mạng và kháng chiến của dân tộc, lớp hậu sinh trân trọng và tự hào về những sáng tác văn học, nghệ thuật mỗi thời kỳ, mà ngày nay vẫn hiện diện trong những giai điệu tự hào thuộc mọi loại hình nghệ thuật. Trên những nẻo đường kháng chiến, tại nhiều chiến trường, hàng trăm văn nghệ sĩ đã hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, đang thời kỳ sáng tác sung sức. Tên tuổi, tác phẩm và cuộc đời của các văn nghệ sĩ tài năng tham gia sáng lập những tổ chức văn nghệ Cách mạng và kháng chiến mãi mãi nằm trong lòng kính yêu, trân trọng của nhân dân; có ý nghĩa nhắc nhở các thế hệ văn nghệ sĩ trẻ về trách nhiệm với công cuộc xây dựng đất nước hôm nay.

Năm 1946, nhằm ký một Hiệp định hòa bình với Pháp, Hồ Chủ tịch đã sang thăm Pháp từ 31/5 đến 20/10/1946. Khi Hồ Chủ tịch sang, nước Pháp chưa có Chính phủ mới để thương lượng. Trong thời gian đó, vốn là một Nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp, lại là một nhà báo, Hồ Chủ tịch đã có nhiều hoạt động, giao tiếp với giới trí thức, văn hóa, báo chí của nước Pháp. Trong bài nói chuyện ở Hội nghị Văn hóa lần thứ nhất, Người có kể: Hội nghị Văn hóa toàn nước Pháp có ý định mời Người tới dự và phát biểu. Nhưng lúc đó, Chính phủ mới của Pháp chưa có, chưa đón Người với nghi thức Nguyên thủ Quốc gia nên người không thể xuất hiện. Rất có thể, đây là một gợi ý, để ngay khi trở về nước, dù tình hình chính trị phức tạp, Chính Hồ Chủ tịch là người đã có sáng kiến và Quyết định triệu tập Hội nghị Văn hóa Việt Nam lần thứ Nhất. Điều này, nhất quán với các nhận định về nhà văn hóa Hồ Chí Minh.

_________

1. Các trích dẫn trong bài được trích từ Sưu tập Văn nghệ 1948-1954 của NXB Hội Nhà Văn, 1998 và Tập Văn Cách mạng và kháng chiến, Hội Văn nghệ Việt Nam xuất bản, 1949.

 

Nguồn Văn nghệ số 48/2021

 

Tin liên quan

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, vấn vương hương Đại, hương Sen

​Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu là cha chú của tôi, hiền như đất, hiền như đôi mắt. Mà mở ra thanh thoát xa ...

Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng*

Tôi là Nguyễn Bình, người đã chuyển ngữ Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du sang thể anh hùng song cú của t ...

Và đó là căn cước của tôi…*

Tôi thường mơ giấc mơ trở về làng - ôm lấy mẹ tôi và nghe mẹ hát một điệu páo dung, mặc ngoài kia mư ...

Hội chợ sách London sẽ trở lại trong năm 2022

Ban tổ chức Hội chợ sách Quốc tế London vừa ra thông báo hội chợ năm nay sẽ được tổ chức trở lại với ...

62 tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học nghệ thuật năm 2021

Sáng 15/1, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã tổ chức lễ trao Giải thưởng ...

Vĩnh biệt nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã trút hơi thở cuối cùng lúc 8 giờ 15 ngày 14-1 ở tuổi 82. Cả cuộc đời ông ...

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh với “Ra bờ suối ngắm hoa kèn hồng”

Sau Tôi là Bêtô, Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ, Chúc một ngày tốt lành, Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồ ...

Nhạc sĩ Huy Tuấn và ‘Kiều mệnh khúc’ vượt khỏi bộ phim ‘Kiều’

Nhạc sĩ Huy Tuấn với ca khúc ‘Kiều mệnh khúc’ không chỉ được trao giải Cánh Diều Vàng, mà còn trở th ...

Nguyễn Ngọc Tư ra mắt "Hong tay khói lạnh"

"Hong tay khói lạnh" là tập tản văn 176 trang, gồm hai phần. Phần 1 mang tên "Giả tưở ...

Cuộc hội ngộ mang tên 40

Đằng sau con số này là câu chuyện của thời gian, là kỷ niệm, là hồi ức, là tình bạn giữa tôi, Hoàng ...

Số phận thế gian này phụ thuộc vào lòng yêu thương của con người*

...Khi chúng ta đặt văn hóa lên tầm cao nhất của đời sống, nghĩa là chúng ta đã thấu hiểu con đường ...

Phát động cuộc thi Truyện ngắn hay sau gần 30 năm gián đoạn

Tạp chí Văn Nghệ TP.HCM và Hội Nhà văn TP.HCM vừa phát động cuộc thi Truyện ngắn hay 2022 vào sáng 1 ...