Hối lỗi


Nguyễn Trãi và Nguyễn Xí xuất thân khác nhau, Trãi là nho gia, con Xí là con ở trong gia đình Lê Lợi, được giao nuôi một đàn chó săn. Xí yêu chó, hàng ngày đánh đàn cho chó nghe, dần chó hiểu ý người, rất tinh khôn, nghe điệu đàn của chủ là biết lao vào con mồi, hay lùi lại. Lợi thấy Xí được việc, lại trung thành, hứa mai này dựng cờ tụ nghĩa, sẽ cho Xí làm chỉ huy đánh giặc. Lợi không nuốt lời, ngay sau ngày hội thề Lũng Nhai, Lợi là trang chủ, cho Xí là một trong các vị công thần, được cầm quân.

Khi Xí có vị thế của một tướng quân, thì Trãi mới từ Thăng Long tìm đến Lam Sơn dâng Bình Ngô sách, xin đứng dưới cờ Bình Định Vương. Là người thông tuệ, sáng láng, Trãi được Lợi tin dùng, cho ở bên mình, gọi là minh sự, gần gũi bàn bạc việc quốc sự sớm tối.   

Minh họa của PHẠM HÀ HẢI

Ngay sau hội thề Lũng Nhai, đội quân của chủ tướng Lê Lợi chia nhỏ, giao cho các vị tướng quân tìm đánh quân Minh bằng những trận phục kích ở dọc đường từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa. Có trận thắng to, chém mấy trăm giặc, xách thủ cấp về quân doanh báo công. Cũng có trận nghĩa quân thua, một lúc mất ba trăm tay giáo. Trận thua là do bị kẻ làm phản dẫn đường cho giặc đánh tập hậu, bắt được cả gia đình vợ con Lê Lợi, đòi chủ tướng ra hàng để chuộc. Nhưng chủ tướng không ra hàng, dù bị địch vây bốn phía. Trong lúc suy vi, chủ tướng thu vét được mấy trăm quân kéo lên núi Chí Linh lập chiến lũy phòng ngự. Địch có bốn vạn quân, nhưng không đám lên núi vì sợ bị phục kích, mà chia quân bao vây. Ba tháng phòng ngự trên núi, nghĩa quân phải giết cả ngựa ăn thay cơm, uống nước gio cỏ gianh thay muối. Tình thế một mất một còn, Lê Lai xin chủ tướng được đóng thế, mặc hoàng bào, cưỡi ngựa, chỉ huy một trăm tay gươm tất cả đều thề sẵn sàng chết vì chủ tướng, lao vào chia cắt vòng vây của giặc. Lê Lai bị giặc giết. Bọn giặc Minh lại tưởng đã giết được chủ tướng Lê Lợi nên hô quân bỏ vòng vây, rút về đồng bằng vì không thể ở vùng núi lâu hơn được nữa. Thừa thế, Lê Lợi đôn quân bám theo, đánh vài ba trận, tước khí giới và lấy lương thực, thoát khỏi cảnh đói dài liền mấy tháng.

Sau khi rút khỏi núi Chí Linh, Lê Lợi và các thủ lĩnh lại tương kiến về bước đi tiếp theo của nghĩa quân Lam Sơn. 

Nhìn vào thực lực, chỉ còn lại mấy trăm quân ốm nhom trong tay, lương thảo cạn kiệt, nên nhiều tướng, trong đó có Xí chủ trương lấy núi cao rừng sâu che chở, tuyển thêm quân, thục luyện chờ thời. Riêng Trãi nghĩ ngược lại. Trãi nói để lớn mạnh nhanh thì phải đưa quân về đồng bằng. Trãi giải thích việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Nói xong, thấy nhiều tướng lĩnh ồn ào Trãi lại chắp tay xin được nghe chỉ giáo.  

Lê Lợi hỏi:

“Dấy quân ư? Lúc này quả là Lợi tôi chưa đám nghĩ như vậy”

 Trãi tâu:

“Bẩm minh công, Trãi tôi tìm đến Lam Sơn là chỉ mong minh công khởi binh dẹp giặc phục quốc. Nếu không được như vậy, Trãi này không biết nói thế nào”

Nguyễn Chích đứng dậy, giọng gay gắt :

“Người đã đọc thiên kinh vạn quyển, há sao không biết chim muốn bay phải đủ lông, đủ cánh. Nay Lam Sơn mới nhóm họp các anh hùng, tráng sĩ cũng vừa chiêu tập, lại trải qua vận hạn ở núi Chí Linh, sao có thể dấy binh đọ với chục vạn quân Minh? Không biết ta, biết người làm sao khởi binh được!”

Lê Sát phụ thêm:

“Ý thần cũng là ý của tướng quân Nguyễn Chích”.

Lê Lợi vẫn ôn tồn, quay sang Trãi:

“Xin cho Lợi tôi nghe tiếp”.

 Trãi tâu :

“Trãi tôi nghe nói ở Ngân Sơn các túc hạ tay không đào hào đắp lũy, chống giặc ròng rã đã bao năm, làm giặc khiếp vía, binh sĩ càng ngày càng thêm đông đảo. Vậy xem ra túc hạ vì thù giặc mà dàn trận, rồi lông cánh sẽ mọc dần, chứ ngồi đợi thì bao giờ mới bay lên đươc?”

 Xí nói chen ngang:

“Nói hay lắm. Mưu sĩ nói hay lắm. Xí tôi xin được mạo muội hỏi mưu sĩ, quân ta ít, nhân tài còn thưa thớt, nên lâu nay lấy rừng sâu, núi cao làm giáp che trở. Điều này chắc tiên sinh đã biết. Nay khởi binh rời nơi núi rừng che chắn, một nhúm người mà kình với mươi vạn quân Minh? Như vậy, há phải trứng chọi đá để tự diệt mình?”

 Trãi vẫn không đổi ý:

“Trãi tôi trộm nghĩ, nhân tài còn thưa thớt, nhưng đã có nhiều nanh hùm, vuốt hổ. Lại có chủ tướng Lê Lợi tài đức hơn người, lòng son dạ sắt, nếu so mũi giáo, đường gươm chẳng thua gì ngũ hổ tướng của Lưu Bị”.

Nghe Trãi giãi bày, Lê Lợi gật đầu hài lòng:

“Quả là tiên sinh biết rõ việc Lam Sơn như việc trong nhà… Lợi này vẫn còn e, quân ta thật chưa sung sức”.

 Trãi nói:

“Ta khởi binh vọt pháo đầu, đánh trước để bọn Hoàng Phúc, Mã Kỳ lúng túng trở tay. Nhưng quân ta chưa đủ mạnh thì phải đánh lâu dài, thắng bằng cơ mưu, mạnh bằng nhân nghĩa. Nhân sẽ giúp ta từ yếu thành mạnh. Nghĩa giúp từ ít ra nhiều. Khởi binh, xuống đồng bằng trước khi đánh thành chiếm đất, phải lo thu phục lòng người… Đó là ngụ ý của Trãi tôi, xin minh công chỉ bảo”

Lê Lợi chắp tay tạ Trãi. Các thủ lĩnh thấy minh công làm vậy cũng đứng cả dậy làm theo. Chỉ Nguyễn Xí là đứng im, không nói gì.

Lê Lợi hỏi Xí:

“Phải chăng người có điều gì không vừa ý?”

 Xí nói không cần cân nhắc:

“Người cầm quân, tai chỉ biết nghe một người thì mắt thường nhìn hẹp”

Lê Lợi dịu giọng:

“Lợi tôi hiểu ý… Hiểu ý… Ta chỉ nghe một người thì e hỏng đại sự ư? Không đâu, mưu lược của minh sư là thuận lòng trời, hợp ý dân… Vậy là ý một người mà hoá tấm lòng của trăm họ”

 Xí lại hỏi:

“Vậy ý của các tướng có động lòng Chúa công?”

Nói xong Xí quay ngoắt bước ra ngoài, đi ra con đường ven núi, bỗng rút gươm chém lia lịa xuống bụi cây vô tội. 

Trãi và Xí không bằng mặt từ đó. Xí giận Trãi hay lấn át Chúa công, nhưng vẫn kìm lòng được, chỉ chém vào cây rừng. Còn đến lần thứ hai, Xí vung kiếm, suýt chém đầu Trãi. 

*

Bấy giờ ở vọng đài Bồ Đề, nơi chủ tướng Lê Lợi quan sát quân ta vây hãm thành Đông Quan.

Trãi là quan Hành khiển ở lều phía dưới, đang soạn thư dụ hàng thì bên ngoài có nhiều tiếng ồn ào. Viên đội chạy vào cửa nhà quan Hành khiển hô lớn:

“Cấp báo…”

 Trãi chưa kịp hỏi cấp báo điều gì, thì sững người vì nhìn thấy trên sông san sát thuyền chở đầy binh sĩ mặc áo tang, tay cầm gươm vung lên sáng loáng.

 Trãi hỏi viên đội:

“Chuyện gì đã xảy ra. Ai cho phép binh sĩ đang vây thành lại kéo thuyền ra sông giương oai, giễu võ?”

Viên đội tâu:

“Bẩm quan Hành khiển, Vương Thông bội ước đánh úp ra Tây Phù Liệt, giết mất tướng quân Đinh Lễ của ta rồi… Lại đang khi sơ hở, chúng bắt mất tướng quân Nguyễn Xí… Giặc bội ước, quân ta nhất loạt bảo nhau mặc áo tang đòi đánh Đông Quan báo thù tuyết hận…”

 Trãi im lặng một lúc, nói từ tốn:

“Để ta lên chòi khai bẩm với Chúa công…”

Một mình Trãi bước lên chòi thượng. Trên chòi bấy giờ bên cạnh Lê Lợi còn có Lê Sát. Thấy quan Hành khiển lên chòi, hai người đứng gọn vào một góc, chờ đón. Trãi vừa lên sàn chòi, chưa kịp chào hỏi, Lê Lợi đã lên tiếng:

“Quan Hành khiển có nghe thấy gì không?”

 Trãi nói:

“Bẩm Chúa công, thần nghe thấy tiếng trống trận từ Hàm Tử vọng đến…”

Từ phía dưới chân chòi thượng, một nghĩa quân chạy đến, ngửa mặt nói lên:

“Bẩm Chúa công, thái giám Lê Cực đóng ở cửa Tây, thiếu úy Trịnh Khả đóng ở cửa Đông xin đánh Đông Quan báo thù cho tướng quân Đinh Lễ”

Lê Lợi ôn tồn:

“Cho lui!”

Lại một hồi trống nổi lên. Một nghĩa quân chạy tới, ngửa mặt nói lên:

“Bẩm Chúa công, đốc quản, đốc quân cùng thiếu uý Bùi Dị xin đánh Đông Quan báo thù cho tướng quân Đinh Lễ…”

Lê Lợi vẫn bình tĩnh nói:

“Cho lui”

Quân sĩ xin đánh Đông Quan sôi như vạc dầu. Trên chòi thượng Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Sát im lặng. Lê Lợi quay mặt nhìn sang Đông Quan vầng trán như giãn ra. Bất chợt, Chúa thượng quay sang, nhìn thẳng mắt Trãi, nói:

“Ta chưa bao giờ thấy rối ruột như lúc này…”

Lê Sát lấn tới:

“Xin Chúa công ban lệnh xuất quân. Quân sĩ đã một lòng, như nước sắp tràn bờ, không thể trì hoãn”

Nguyễn Trãi cúi tâu với Lê Lợi:

“Khải Chúa công, thần theo Chúa công đã bao năm nằm gai, nếm mật, chỉ một lòng trung. Thần đau lòng vì Đinh tướng quân bị giặc sát hại. Nguyễn Xí bị bắt giam, thần đã cho người vào Đông Quan đặt mưu kế cứu tướng quân ra khỏi ngục thất... Binh sĩ sục sôi đòi đánh giặc trả thù… Nhưng, thần e, Chúa công dồn quân đánh Đông Quan là mắc mưu của Vương Thông, Hoàng Phúc…”

Lê Lợi:

“Nhưng ba quân đã mặc áo tang, nhất tề đòi đánh Đông Quan để hỏi tội Vương Thông… Vả lại, ta mưu sự lâu nay để chiếm lại Đông Quan. Nay có dịp đánh Đông Quan mà hoãn binh thì chính ta nuốt trôi lời hứa cùng ba quân và trăm họ sao?”.

Lê Sát thêm vào:

“Nhà hai nóc thường hay bị dột. Quyền uy nghĩa quân Lam Sơn chỉ trong tay một Chúa công… Xin Chúa công chớ vì tình riêng mà bỏ lỡ việc lớn…”

Nguyễn Trãi vẫn không đổi ý:

“Thần lấy đầu thần xin Chúa công đừng xuống lệnh đánh Đông Quan… Việc lớn của nghĩa quân không phải chỉ giải phóng Đông Quan, mà quét sạch bóng thù trên khắp Đại Việt!”

Lại có tiếng trống thúc. Người lính chạy dưới chòi thượng, ngẩng mặt lên, cấp báo:

“Bẩm Chúa công, tướng quân Nguyễn Xí vừa thoát khỏi vòng vây, xin lên yết kiến”.

Nguyễn Xí bị thương ở nách, được hai người lính dìu lên chòi. Vừa bước vào sàn chòi, Xí chắp tay trước Lê Lợi, quỳ xuống:

“Khải Chúa công… Giặc đã sát hại mất hiền huynh Đinh Lễ… Xin Chúa công cho thần cầm quân đánh thẳng vào Đông Quan hỏi tội Vương Thông, Hoàng Phúc”

Lê Lợi nói:

“Tướng công cứ ngồi xuống cho đỡ mệt”

Nguyễn Xí:

“Thần không ngồi… Thần không ngồi chừng nào chưa trả được thù cho Đinh Lễ. Trình Chúa công… bởi bùn lầy ngựa bị lún chân… nên Đinh Lễ bị mũi tên của Vương Thông sát hại”.

Lê Lợi bỗng xuống giọng, gọi Xí là cháu:

“Còn cháu làm sao thoát được…”

 Xí vẫn đứng tâu:

“Dân chúng Đông Quan đã cứu thần ra ngoài ngục thất. Dân lại còn tìm được thanh gươm của Đinh tướng quân, trả lại cho ta… Xin dâng Chúa công gươm báu”

Lê Lợi nhận thanh gươm, gương mặt xúc động.

Nguyễn Xí nói:

“Thanh gươm này từng chém đá ăn thề ở Lũng Nhai, từng chém giặc ở Khả Lưu, Tốt Động… Xí tôi xin được nhận gươm vào Thăng Long lấy đầu Vương Thông làm lễ hiến phù trước mồ tướng quân Đinh Lễ…”

Xí quỳ xuống, nắm vạt áo Lê Lợi.

Trãi đỡ Nguyễn Xí đứng lên. Thay vào chỗ Xí quỳ, Trãi quỳ xuống. Giọng  Trãi vừa đanh thép lại vừa khẩn khoản cầu xin:

“Khải Chúa công… Mối thù này xin quyết trả xong… Nhưng Chúa công hô ba quân nhảy vào Đông Quan lúc này là thất sách”

Xí lớn tiếng: 

“Khải Chúa công, ở Lũng Nhai ta đã uống máu ăn thề, quyết một lòng diệt giặc. Nay trước trận tiền mà tim đập, chân run, nhìn giặc làm ngơ trước ba quân đòi xông trận thì coi như đã phản lại lời thề… Quan Hành khiển không được ỷ thế ngăn Chúa công hành đạo”.

Xí rút gươm ra khỏi vỏ. Lê Lợi xoay người đứng chắn trước mặt Xí.

 Trãi cất tiếng:

“Khải Chúa công…”

Lê Lợi ngăn không cho Trãi nói tiếp. Mắt Lê Lợi trừng trừng nhìn Trãi.

“Đây là nước cờ cuối… Ta nghe người nói chỉ một câu… Ta đánh thành hay không?”

Nguyễn Trãi:

“Chờ…”

 Xí vẫn cầm gươm ở tay:

“Nước đã đến chân, chờ đến bao giờ?”

Nguyễn Trãi:

“Vào Đông Quan thì phải chờ… Nhưng binh hùng tướng mạnh phải lập tức lên đường về phía Chi Lăng. Viễn hầu Liễu Thăng đang cầm 20 vạn quân Minh kéo sang giải vây cho Vương Thông, Hoàng Phúc. Một mặt ta vây chặt Đông Quan. Một mặt ta đánh quân tiếp viện. Đánh tan quân tiếp viện, thì Đông Quan tất sẽ phải ra hàng”

Nguyễn Trãi nói xong, Lê Lợi im lặng. Bỗng có người từ dưới chòi thượng bẩm lên:

“Bẩm Chúa công… Thành Đông Quan đang bốc cháy!”

Lê Lợi nhìn về thành Đông Quan, gật đầu hài lòng.

Nguyễn Xí reo vang, mãn nguyện, nói.

“Khải Chúa công… Thần đã cho một tốp tinh binh lén vào Đông Quan đốt thành làm cho Vương Thông, Hoàng Phúc khốn đốn”

Nguyễn Trãi thét lên:

“Ai cho người làm thế!”

 Xí chỉ kiếm về phía trước:

“Lòng căm thù giặc của Xí này xúi giục”

Nguyễn Trãi kêu lên:

“Trời ơi. Chúa công ban ngay lệnh ngừng đốt. Thành Thăng Long là mồ hôi, nước mắt trăm họ cùng bao vua sáng tôi hiền tiếp nhau xây dựng nên. Thăng Long không có tội tình mà đốt cháy. Xin Chúa công xuống lệnh chém đầu kẻ nào dám đốt phá Thăng Long văn hiến”

Lê Lợi không còn biết nghe ai. Ông nhìn Nguyễn Xí lại nhìn Nguyễn Trãi. Bỗng Chúa công gầm lên:

“Thôi. Các người đi cả đi”

Mọi người lục tục xuống các bậc thang của chòi thượng. Trãi vừa bước, vừa nhìn khói lửa bốc cao trong Đông Quan mà chân tay run rẩy. Quan Hành khiển dồn sức hét lên:

“Bẩm Chúa công, cho dừng ngay việc đốt thành. Thăng Long là hồn thiêng Đại Việt, là mồ hôi nước mắt trăm họ dựng nên... Xin Chúa công”

Bỗng Trãi trượt chân, văng từ trên bậc thang xuống đất. Từ phía dưới, chỉ kịp nghe tiếng kêu của Thị Lộ.

Tối ấy, Lộ đang chăm sóc thuốc cho Trãi tại lán của quan Hành khiển thì Lê Lợi bỗng đến thăm. Chúa đi không có hộ giá, như đi thăm một người bạn. Tuy nhiên Trãi vẫn giữ lễ cao thấp. Ông cúi người, chắp tay chờ Chúa thượng ban lời.

 Lê Lợi xua tay:

“Ta thèm những đêm trên đất Lam Sơn tướng sĩ cùng ngồi trên sạp nứa bàn việc nước… Đêm nay ta không thể ngủ…”

Trãi nói:

“Thần trộm nghĩ nửa đêm Chúa thượng xa giá đến tư thất của thần, hẳn có điều gì chỉ bảo”…

Lê Lợi:

“Ta đã nghĩ lại. Nghĩa quân Lam Sơn từ một nhóm binh sĩ lấy núi rừng làm giáp che chắn, nay một đạo hùng binh lại chiếm cứ đồng bằng, bao vây Đông Quan, đang đánh đâu thắng đấy… là do mưu lược của minh sư giương cao cờ đại nghĩa, lấy dân làm gốc.

Trãi nói:

“Quân ta lớn mạnh là do tài thao lược của Chúa thượng. Dân ta đồng lòng dưới cờ đại nghĩa là do tấm lòng nhân ái của Chúa thượng. Thần chỉ là hạt cát, được hưởng mưa móc của Chúa thượng, luôn giữ một lòng trung…”.

Lê Lợi nghe vui tai, nhưng vẫn trách quan Hành khiển quá lời, rồi bày tỏ gan ruột.

“Người là minh sư của ta. Ta đi cùng người như là đi cùng sự sáng láng được hội tụ của muôn đời Đại Việt. Vậy mà hôm nay… Hôm nay trên chòi thượng, có lúc ta quên lời thề Lũng Nhai, cho mình là Vương tử đã để cho các tướng lấn át lẽ phải của minh sư… Nay ta nghĩ lại, ta thấy nước cờ của minh sư thật là thâm hậu…”

Trãi vẫn khoanh tay:

“Thần có tội vì đã làm Chúa thượng phải bận tâm…”

Lê Lợi:

“Không… Minh sư làm ta sáng suốt hơn. Ta đã động binh, giao cho Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Thụ, Lê Linh, Nguyễn Xí kéo lên phía Bắc làm trận địa chuẩn bị đánh viện binh do Liễu Thăng cầm đầu kéo vào Đại Việt. Ta đã cho Lê Trung, Bùi Bị gióng trống mở cờ bao vây bốn mặt Đông Quan. Ta và minh sư cũng chia làm hai ngả. Ta cầm quân lên mạn Bắc đánh quân tiếp viện. Điều binh, khiển tướng bao vây Đông Quan xin minh sư toàn quyền coi xét”.

Trãi cúi đầu tâu:

“Thần nghĩ đây là trận cuối cùng trúc chẻ, tre bay để giang sơn hết bóng giặc… Thần xin một lòng phụng quốc”

Lộ bưng khay rượu ra. Trãi và Lê Lợi mỗi người cầm một chén.

Lợi nói:

“Đã đến giờ khởi binh… Mời minh sư điểm binh, xuất trận…”

Trãi bước theo Lê Lợi lên bờ đê. Cả một vùng đồng ruộng mênh mông trước mặt bật lên hàng ngàn đuốc lửa. Những đốm lửa chi chít, lung linh như ngàn sao trên trời. Trong bóng tối lờ mờ, người ta thấy Lê Lợi và Nguyễn Trãi chia tay nhau. Lê Lợi lên kiệu còn Nguyễn Trãi đứng nhìn theo bóng Chúa công cho đến khi khuất hẳn vào cánh đồng lửa đuốc.

*

Ở cánh quân phía bắc, Lê Lợi cho đặt đài quan sát trên một ngọn đồi. Chúa công đứng nhìn bao quát vùng rừng núi điệp trùng trước mặt. Địa thế thật hiểm trở. Từ trên cao thấy con đường dưới chân núi nhỏ như sợi chỉ.

Trên một sườn non, quân do Trần Nguyên Hãn chỉ huy nhô lên như những lớp sóng. Giáo mác hua lên sáng loá. Tiếng reo hò vang động. Dưới kia, trên đường nằm dưới sườn núi, quân Minh sững lại, tản ra, náo loạn. Người ta thấy bóng dáng thái tử Liễu Thăng trên mình ngựa chiến đang thúc quân lấn tới. Có lẽ vì binh lính hoảng loạn vì đang bị bao vây, để ra uy, Liễu Thăng vung kiếm chém bay đầu một tên lính. Nhưng hàng ngũ của quân Minh vẫn không thể thiết lập, càng lúc càng bị chia cắt, vón lại thành từng đám.

Đại quân của Hãn hô vang, tràn xuống như thác. Binh lính cùng voi chiến đột ngột xuất hiện từ các lùm cây, nhào vào đám quân Minh cuống cuồng chống đỡ. Khắp chiến địa binh sĩ của Hãn hô vang giết lũ giặc Minh. Những thân người bị chém. Những chiến binh trên mình ngựa ngã quỵ. Cuộc tàn sát thảm khốc, máu nhuộm đỏ mặt đất. Tiếng ngựa hí lạnh gáy.

Liễu Thăng phóng ngựa bừa qua tốp lính đang cố gắng kháng cự, định lui về phía sau. Cung thủ của Hãn, nhanh như chớp bắn về phía tướng giặc. Mũi tên bay qua đầu đám lính, cắm vào vai Liễu Thăng. Y cố gượng trên mình ngựa, tự tay rút mũi tên, tiếp tục ra roi để ngựa phi nước đại.

Nhưng đường tháo lui của Liễu Thăng cũng đã bị chặn. Đó là đường độc đạo. Binh sĩ của Hãn nhất tề đứng vụt lên ở hai bên sườn núi hò reo đã làm Liễu Thăng quay ngoắt ngựa lại. Phía sau lưng Liễu Thăng là cuộc giáp chiến, hai bên nhào vào nhau, đâm chém.

Ở các trận địa nghĩa quân cũng đều đánh thắng. 

Trận giáp chiến vừa ngừng, Lê Lợi đã vội xuống bãi chiến địa. Người cúi xuống một người lính tử trận, nói với Trần Nguyên Hãn:  

“Trận này cả đại quân có công đánh tan mười vạn quân Minh tiếp viện… Nhưng người chết có công nhiều hơn người sống. Người chết chưa kịp hưởng công thì tướng quân cho bố cáo với làng xã rồi đem thưởng về cho bố mẹ, vợ con họ…”

 Hãn chắp tay, bẩm:

“Thần thay mặt binh sĩ, tạ ơn Chúa công”!

Lê Lợi gọi Nguyễn Xí đến, nói:

“Người cho người chạy ngựa cấp báo cho quan Hành khiển biết tin viện binh của giặc đã bị ta chặn đường đánh tan. Minh sư cần có đối sách ngay với bọn giặc bị vây trong thành Đông Quan”.

Xí tâu:

“Khải Chúa công, chỉ nay mai thế nào đại quân ta cũng về đến Thăng Long, vả lại, Chúa công còn ở đây, minh sư có quyết sách gì phải đợi để khải tấu, cho nên…”

Lê Lợi:

“Không… Không… Ta thắng Chi Lăng, Tốt Động, chém đầu Liễu Thăng, vùi xác gần mười vạn giặc là ta không chỉ có binh hùng tướng mạnh mà có mưu lược của minh sư. Việc giải giáp giặc ở Thăng Long giao cho minh sư định đoạt…”

 Hãn đứng bên, nói:

“Thần xin hỏa tốc về Thăng Long đen tin thắng trận về cấp báo cho minh sư cùng binh sĩ đang vây thành”.

Lê Lợ hài lòng, dặn:

“Nhớ đem theo kiếm lệnh của Liễu Thăng, hổ phù của Mộc Thạch làm vật chứng…”

Hãn lên yên ngựa, vội đi.

Hãn phi ngựa suốt đêm, về đến Bồ Đề cũng vừa sáng. Vừa gặp Nguyễn Trãi, Hãn ra lệnh cho anh lính bưng chiếc hòm đến trước mặt quan Hành khiển. Hòm được mở ra. Trong hòm là kiếm lệnh của Liễu Thăng, hổ phù của Mộc Thạch rồi ấn tín rồi cờ xí của giặc. Nguyễn Trãi xem qua hòm chiến lợi phẩm, nói:

“Cho ta bình rượu để mừng tướng quân”.

Lính mang bình rượu ra. Nguyễn Trãi tự rót ra chén, rồi cầm một chén đưa cho Hãn, nói:

“Ta giao cho tướng quân cai quản trại Bồ Đề, tự ta vào thành bắt Vương Thông, Hoàng Phúc phải đầu hàng”

Đoàn của quan Hành khiển Nguyễn Trãi vào thành Thăng Long ngay sau đó. Trước kiệu của Nguyễn Trãi có lính vác cờ lệnh của chủ tướng Lê Lợi. Bước theo sau là hai hàng văn võ. Họ vào thành theo lối cửa Đông.

Đoàn thương thuyết đi qua các phố phường xơ xác và những nhóm người mắt nhìn nhớn nhác. Ngồi trên kiệu Nguyễn Trãi dường như không để ý đến đám lính Minh tụ từng tốp, đai nịt như sắp xung trận. Ông dõi nhìn quanh cảnh đổi thay, tìm kiếm người quen cảnh cũ.

Kiệu Nguyễn Trãi dừng lại trước của thành phía Đông. Viên đội úy vệ thấy Nguyễn Trãi bước ra từ kiệu quan Hành khiển thì vội chạy vào trong thành. Hắn chạy thẳng đến phòng Bạch Mã. Mã Kỳ, Vương Thông đang ở đó. Viên đội úy vệ hớt hải đến trước mặt Mã Kỳ, nói:

“Bẩm quan Tổng binh, Nguyễn Trãi tự vào thành nộp mình…”

Vương Thông đứng bật dậy:

“Có thực là Nguyễn Trãi vào thành xin đầu hàng?”

Đội úy:

“Dạ, Nguyễn Trãi đang chờ ngoài cửa thành”.

Vương Thông nói như reo:

“Nguyễn Trãi quy hàng… là ta đã thắng…”

Vương Thông cười lớn. Mã Kỳ vội bước ra. Lát sau, Mã Kỳ bước vào, dẫn theo Nguyễn Trãi cùng đoàn tùy tùng. Trãi bước khoan thai, đĩnh đạc đến trước mặt Vương Thông. Theo sau Trãi có anh lính đội chiếc mâm đồng, phủ vải đỏ.

Nguyễn Trãi lên tiếng:

“Trãi tôi xin chào các đại nhân…”

Vương Thông đáp lễ:

“Xin chào tiên sinh. Vương Thông đã đợi đại nhân về với thiên triều từ lâu. Nay đại nhân mới vào thành nộp mình, tuy có muộn nhưng cũng đáng khen là người biết ngộ đúng lúc”…

Nguyễn Trãi:

“Đại nhân nói gì, Trãi tôi không hiểu”

Vương Thông:

“Thôi, lễ vật xin quan Hành khiển cứ bày ra, rồi ta cùng lên mặt thành, gọi nghĩa quân Lam Sơn giải giáp. Ta xin với thiên triều tha cho ngươi và binh sĩ của ngươi tội chết ».

Nguyễn Trãi cứng rắn hỏi:

“Sao quan Tổng binh lại nghĩ Trãi tôi sang hàng?”

Vương Thông:

“Chả nhẽ ông lại xin sang chết?”

Trãi dõng dạc:

“Trãi tôi sang đây đem theo ý của Bình Định Vương Lê Lợi chỉ mong dẹp lửa binh đao, Bắc Nam hoà hiếu. Trãi tôi xin dâng lễ vật”.

Anh lính hạ chiếc mâm đồng xuống trước mặt Vương Thông. Tự tay Nguyễn Trãi lật mảnh vải đỏ phủ mâm, lấy ra một thanh kiếm, đưa cho Vương Thông:

“Thưa quan Tổng binh, thái tử Liễu Thăng đã bị chặt đầu ở Chi Lăng, để lại thanh kiếm lệnh này. Còn đây là hổ phù của quốc công Mộc Thạnh. Quân tiếp viện đã bị nghĩa quân Lam Sơn đánh tan. Nếu quan Tổng binh vẫn chưa chịu hòa hiếu thì việc nghĩa quân lấy thành Đông Quan cũng chỉ một sớm một chiều… Giờ tiến hay lùi tùy ngài định đoạt”

Trãi nói xong, cáo lỗi ra về.

Vương Thông đứng như trời trồng.

Trãi về đến trại Bồ Đề cũng vừa lúc Nguyễn Xí dẫn đội tiền quân từ phía Bắc về xin được bao vây Đông Quan ngay để tiêu diệt bọn Hoàng Phúc, Vương Thông, không chậm trễ.

Trãi nói với Xí:

“Chúa công cũng đã về tới trại Bồ Đề. Để ta bẩm báo với Chúa công”.

Xí nói:

“Tình thế chỉ còn một đường là mau lấy đầu Vương Thông, Hoàng Phúc, không cho ông được làm khác”!

Vừa lúc Chúa công bước đến. Một viên đội chạy tới, hô:

“Khải Chúa công, có thư của Vương Thông, xin mở của thành nghị hòa, hẹn ngày bó giáo, cuốn cờ về nước…”

 Lê Lợi nói với Trãi:

“Vậy là minh sư dụ hàng đã thành công. Nhưng bọn Vương Thông, Hoàng Phúc còn gì mà dám đòi nghị hòa? Chúng chỉ còn một lối đầu hàng. Xin mời quan Hành khiển cho biết ý”.

Trãi tâu:

“Nhiều tướng lĩnh và binh sĩ xin trị tội Vương Thông, Hoàng Phúc. Thiển ý của Trãi, việc đó không nên làm. Bọn này nhiều tội ác, ta uống máu ăn gan chúng cũng chưa hả. Nhưng làm thế càng gây oán thù chất chứa để phương Bắc phái quân sang lần nữa, trăm họ càng lắm đau thương. Nay ta ban cho chúng đầu hàng, tạo phúc lâu dài cho hoà hiếu hai nước, đó chẳng phải là để tiếng thơm cho muôn đời hay sao…”

 Hãn nói thêm:

“Tâu Chúa công, những điều minh sư vừa nói, là cái đức hiếu sinh, chúng thần xin tuân thủ”!

Lê Lợi:

“Ta thấy minh sư của ta nhìn xa trông rộng, tính việc hôm nay, mà lo cho bình an mai sau của trăm họ, thật là minh ý. Ta thuận theo khanh”.

Chúa công vừa dừng lời, Xí đeo gươm quỳ trước Nguyễn Trãi:

“Xí tôi mắt nhìn không rộng, mấy lần ngờ oan mưu lớn của minh sư. Thật là có tội. Để nhớ mãi lời hối lỗi, tôi xin chặt một ngón tay”!

Xí nói, đặt bàn tay lên thân cây, rút gươm, nhưng chưa kịp chém Nguyễn Trãi đã ngăn lại.

Nguồn Văn nghệ số 35+36/2020

Tin liên quan

Con Pai ro mhai ra đi, người S’Tiêng ở lại

Trở lại nơi vùng đất cách xa nhất trung tâm tỉnh Lâm Đồng (xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên), cảm xúc ...

Trở lại miền đảo xa

Ra đến đảo, lần nào cũng thế, khi đặt chân lên cầu tàu ở đảo, lòng tôi đã dâng đầy cảm xúc, một Cô T ...

Thơ đoạt giải cuộc thi Thơ báo Văn nghệ (1019 - 2020)

TÒNG VĂN HÂN Mẹ tôi chửi kẻ trộm Những lần gà nhà tôi bị mất Mẹ tôi chửi: - Cái đứa trộm g ...

Gió Lào

Quê tôi nhiều đặc sản, một trong những đặc sản được thiên nhiên ban tặng là gió Lào. Mỗi năm, vào đầ ...

Từ một bài thơ đến việc đặt tên cho một thị trấn

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm Vinh năm 1975, tôi được phân công về dạy học ở Trường ...

Những chuyến đi và nền tảng cho thi ca

Chúng tôi thường đùa là nữ thi sĩ Việt Nam có 3 cái vai: vai gánh công việc, vai gánh gi ...

Những người giữ hồn làng

Thiên hạ bảo, người ta phát hờn ghen với người làng Gang của tôi ở cái xã Thụy Ninh thuộc huyện Thái ...

Mưa đầu mùa

Sớm nay, trong cái vắng tanh của con ngõ, tôi gõ nhẹ vào cái hộp gỗ đựng trà, nghe tiếng rỗng không. ...

Tiếng hát yêu đời

...Trịnh Công Sơn là người thuộc thế hệ của những con người bị ném vào lò lửa của chiến tranh khốc l ...

Phố núi mùa dã quỳ vàng rực

Cao nguyên Gia Lai hình thành bởi dãy núi lửa đã chết hơn triệu năm. Bước chân đến Pleiku tôi đã mơ ...

Ca trù và duyên phận

Nghệ nhân ưu tú (NNƯT) Phùng Thị Hồng sinh năm 1952 tại làng Đại Phùng, xã Đan Phượng, huyện Đan Phư ...

Có một hương xuân trong lòng thị xã!

Trời chuyển sang mưa, cái lạnh se se giữa những ngày xuân ấm vừa qua khiến ta chùng lòng... Muốn nắm ...