Giản dị mà sâu sắc, bất ngờ


                                                                               

Trong một tác phẩm văn chương nói chung và trong một tác phẩm thơ nói riêng, phần lớn đều có “tầng nổi” và “tầng chìm”. Trong một bài thơ cũng thế. Nói như thế cũng không có nghĩa: Tác phẩm nào cũng đều có hai phần đó. Không ít bài thơ chỉ có “tầng nổi” mà không có “tầng chìm”. Với những bài thơ kiểu này, mọi thứ được viết ra đều trơn tuột, không để lại một vết tích nào. Giống như người ta ném một vật xuống nước, mà sau đó, đợi mãi cũng không thấy “mọc mũi sủi tăm” ở đâu, dù ở mức độ không đáng kể.

Nói một cách khác, “tầng nổi” là cái bề mặt, “tầng chìm” là cái bề sâu. Không phải bề mặt không quan trọng, vì bề mặt sinh ra có chức năng là để “tải” cái bề sâu. Nhưng không có cái bề sâu thì cái bề mặt sinh ra, cũng chẳng có giá trị gì mấy.

Nửa đầu thế kỷ 20, nhà thơ lớn người Đức B. Brecht có một bài thơ thật hay, tiêu biểu cho “tầng nổi” và “tầng chìm” của một tứ thơ. Bài thơ mang tên Sợi dây thừng bị đứt (Quang Chiến dịch):

Sợi dây thừng bị đứt có thể buộc nối lại

Nó lại chắc như xưa

Những dẫu sao thừng cũng đã đứt rồi.

 

Có thể hai ta còn tái ngộ

Nhưng ở nơi tôi bị em từ bỏ

Sẽ chẳng bao giờ em gặp lại tôi đâu.

Nếu coi khổ một là cái bề mặt, thì rõ ràng khổ hai (cũng là khổ kết) là cái bề sâu. Ở đây, rõ ràng khổ đầu chỉ là khổ dẫn dắt, có tác dụng như một sợi dây cháy chậm dẫn đến sự nổ ở khổ sau. Kết nối được sợi dây thừng bị đứt với một tình yêu chia ly, một sợi dây thừng được nối lại với một tình yêu được hàn gắn lại, là tài năng của B. Brecht. Nhưng chỉ có thế thì bài thơ chưa lớn. Bài thơ chỉ thực sự lớn ở hai câu cuối:

Nhưng ở nơi tôi bị em từ bỏ

Sẽ chẳng bao giờ em gặp lại tôi đâu.

Với một xuất phát và một quan niệm như thế, tôi đã đọc và gần như soi chiếu vào tập thơ Như có tiếng lao xao của nữ nhà thơ Trương Ngọc Lan. Tôi dừng khá lâu ở Hôn nhân:

Hôn nhận như cái hộp

Có khi tròn khi vuông

Loay hoay đi tìm nắp

Thi thoảng gặp một cặp

Và cũng dừng khá lâu ở Nhà nhỏ nhà to:

Người ta xây nhà để trú ngụ

Trú ngụ xác thân

Trú ngự tinh thần

 

Người ở nhà to hay vắng mặt

Mải đi tìm kiếm thứ to hơn

 

Nhà to không chơi với nhà nhỏ

Sạch sẽ thơm tho

Cửa khóa mở

 

Nhà nhỏ ban ngày lo tiền chợ

Lo dọc lo ngang

Giật mình luôn.

Bài thứ nhất nói về bi kịch của hạnh phúc của những cặp hôn nhân trong giá thú. Bài thứ hai nói về sự phân hóa giàu nghèo. Cả hai đều được viết giản dị mà sâu sắc, giản dị mà khó làm, có chất khái quát, triết lý. Chỉ cần phác mấy nét về hiện tượng, nếu chịu khó suy nghĩ, người đọc đã nhận ra ngay bản chất của vấn đề.  Bản chất ấy là “Loay hoay đi tìm nắp/ Thi thoảng gặp một cặp”. Bản chất ấy là “Người ở nhà to hay vắng mặt/ Mải đi tìm kiếm thứ to hơn…/ Nhà to không chơi với nhà nhỏ…/ Nhà nhỏ ban ngày lo tiền chợ/ Lo dọc lo ngang/ Giật mình luôn”.

Chưa hết. Trong số 54 bài của Như có tiếng lao xao, tôi thấy có nhiều bài (tính theo đơn vị bài và đơn vị câu) thật đáng chú ý. Trong đó, đáng kể là các bài: Cá nhỏ, Món cũ, Ký ức, Giải pháp, Pha-cô, Xuân muộn, Chút bận lòng, Trên tay bốn kẽ, Xoay một vòng, Nhà to nhà nhỏ, Như có tiếng lao xao, Tôi đi tìm tôi… Trong những bài thơ ấy, độc giả rất dễ tìm ra được những câu thơ có một cách nói lạ, ngỡ như trực tiếp mà không trực tiếp, ngỡ như khơi khơi mà không khơi khơi, hầu như bài nào cũng có ý, có tứ, luôn hướng tới những cái đích khó hình dung ra nổi và chốt lại ở tâm sự, thân phận, mất mát, sẻ chia, cứu rỗi. Có thể làm một phép thống kê thuần túy: “Ký ức như cánh cửa/ Bên ngoài khóa ổ/ Trong luyện thiền” (Ký ức), “Xuân sớm xuân muộn mọi vẻ/ Lọ hồng vàng vẫn nở ung dung” (Xuân muộn), “Một đời thì ngắn/ Một ngày lại dài” (Tôi đi tìm tôi), “Đá vặn mình/ Nghiến răng thành cát/ Li ti rơi lả tả những mảnh hồn”(Bài ca nghiệt ngã), “Để rồi thanh thản/ Đi qua địa cầu/ Hay tay nhẹ nhõm/ Mang được gì đâu” … Trong số này, có nhiều bài ra đời nhờ khả năng phát hiện, xâu chuỗi sự vật, rồi quy nạp như là một sở trường bền vững của Trương Ngọc Lan.

Tôi thích những động từ mạnh mang tính đột phá rất rõ. Chẳng hạn như “quẫy” trong “Chữ cứ quẫy lên” trong Đêm thêu thùa, “vẫy” trong “Xa xa lá nõn vẫy bụi cây” trong Hạt phùn lá nõn, “tuột” trong “Mộng mị tuột hồi nào” trong Sao đêm, “dọn” trong “Tôi dọn hồn tôi” trong Em xưa, tôi xưa

Trong Như có tiếng lao xao, cho dù có lúc ví mình như “cá nhỏ mắc bóng, cong mình quẫy đạp” và “Như sợ dây đàn không bật được tiếng”, có lúc cảm thấy “thời gian nào ai giữ được” và “Màu Tết nay chỉ còn hương khói”… nhưng Trương Ngọc Lan vẫn tìm được giải pháp giải tỏa cho mình. Cho nên chị đã: “Thì thôi/ Đành “ô kê” mọi việc/ Chỉ “thanh kiu” cho thanh thản tấm lòng” hay: “Không chạy được/ Thì ta đi bộ” hoặc: “Hai tay dẫu mỏi/ Xin ôm lấy/ Từng cơn gió nhẹ thoảng bên trời”…

Thơ trong Như có tiếng lao xao” là thơ của một-người-một-mình, như không dính dấp tới một-người-cô-đơn thường thấy. Như một thói quen thường trực, bà thường “Tìm chữ mà chơi”. Thói quen này đã được bà xác lập qua 11 tập thơ đã xuất bản nếu tính từ 1990 đến 2018.

Nên nhớ một mình rất khác với cô đơn. Một mình là hướng về mình và chỉ hướng vào cái bên trong của mình, trong khi cô đơn, dù có thế nào, vẫn còn hướng về người khác, cần đến một người khác.

   Nguồn Văn nghệ số 15/2019

Tin liên quan

Vĩnh biệt nhà thơ Nguyễn Phan Hách

Vĩnh biệt nhà thơ Nguyễn Phan Hách, Văn nghệ xin giới thiệu hai bài viết về ông, thay cho nén tâm nh ...

Người dệt Khăn quàng tơ sen

Cuốn sách Khăn quàng tơ sen của nhà thơ Nguyễn Phan Hách gồm 59 tản văn và truyện mini. Đó là 59 lát ...

Từ chiếc neo của làng quê

Ngõ chùa là tập truyện ngắn của tác giả Ngô Thị Đào Nguyên, gồm 25 bài viết về làng quê thôn Khả Gio ...

Lòng ta mây trắng về đâu nhỉ?...

Ngoài kia mây trắng gợi ra hình ảnh nhà thơ nhìn ra xa, nhìn vào khoảng không, một cõi không gian mê ...

Tình yêu là mãi mãi

​ ông Mai Trắng là tác phẩm đầu tay, hơn nữa lại là một cuốn tiểu thuyết dày 400 trang củ ...

Nhà văn với đề tài miền núi và dân tộc thiểu số

Trong văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, đề tài miền núi và dân tộc thiểu số luôn là đề tài chủ ...

Một nhà văn công nhân đích thực

Tôi gặp Trần Dũng lần đầu từ 45 năm trước, vào mùa hè 1974. Gặp qua Giới hạn của biển. Một cách gặp ...

Hiểu căn tính dân tộc và bề sâu tâm thức

A. P. Chekhov từng khẳng định: “Nếu người cầm bút không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ l ...

NHẬN DIỆN GƯƠNG MẶT THẾ HỆ VIẾT HÔM NAY - THỀ HỆ THIÊN NIÊN KỶ (MILLENNIAL)

​Cụm từ thế hệ thiên niên kỷ (millennial) hiện đang được định danh cho một thế hệ mới đã và sẽ làm c ...

Phồn Sinh Nguyễn Linh Khiếu

Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu, sinh năm 1959 tại Thái Bình. Ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Giải t ...

Truyện ngắn nữ Việt: một vài phác thảo

Nhìn lại nền văn học trung đại nước nhà, Phan Khôi nhận ra tình trạng “rỗng” và “lép” của đội ngũ tá ...

Mặc lan Dương Duy Ngữ

Một người làm việc với chữ cẩn trọng tinh tế đến như thế, nhưng sống ở ngoài đời thì cứ tự nhiên nhi ...