Chân, giả, và văn học


 

Salman Rushdie (1947 - ) là nhà văn, nhà viết tiểu luận người Anh gốc Ấn, sống tại Mỹ từ năm 2000. Ông là tác giả của 13 cuốn tiểu thuyết, mới nhất là “Golden House” (Nhà Golden). Tác phẩm thứ hai của ông, “Midnight’s Children” (Những đứa trẻ lúc nửa đêm), đoạt giải Man Booker năm 1981 và hai lần được tôn vinh là “cuốn tiểu thuyết hay nhất trong tất cả những cuốn từng chiến thắng” nhân kỷ niêm 25 năm và 40 năm thành lập giải Man Booker. Năm 2008, tờ The Times xếp ông ađứng thứ 13 trong danh sách 50 nhà văn người Anh vĩ đại nhất kể từ năm 1945.

“Sao cơ, Người điên à? Người điên rồi à?” Falstaff gặng hỏi Hoàng tử Hal, trong Henry IV, Phần 1 của Shakespeare. “Đó không phải là sự thật thật sự sao?” Nực cười, tất nhiên, vì hắn đã và đang trí trá trắng trợn, và vị hoàng tử đang từng bước vạch trần sự dối trá của hắn.

Vào thời điểm như hiện nay, khi chính hiện thực dường như bị công kích khắp nơi, trò nhị nguyên trong sự thật của Falstaff có vẻ đang được nhiều lãnh đạo quyền lực áp dụng. Ở ba quốc gia mà tôi cả đời để tâm đến - Ấn Độ, Anh và Mỹ - cái giả tạo huyễn hoặc thường được coi là sự thật, trong khi những thông tin đáng tin cậy hơn lại bị phỉ báng là “tin giả”. Tuy thế, những người bảo vệ sự thật, trong nỗ lực ngăn chặn dòng lũ thông tin đánh lạc hướng đang nhấn chìm chúng ta, thường mắc sai lần khi kì vọng vào một thời hoàng kim, khi sự thật được chấp nhận không tranh cãi mọi lúc, mọi nơi, và lập luận rằng cái chúng ta cần là trở lại với những đồng thuận hạnh phúc đó.

Sự thật có đúng là sự thật luôn là điều gây tranh cãi. Khi còn là sinh viên khoa Lịch sử ở Cambrige, tôi sớm học được rằng có một số “những sự kiện cơ bản” – đó là, những sự kiện không thể bác được, như trận Hasting diễn ra năm 1066 hay Tuyên ngôn Độc lập Mỹ được thông qua vào ngày 4/7/1776. Nhưng kiến tạo một sự kiện lịch sử phải gắn vào một việc có ý nghĩa.  Julius Caesar vượt sông Rubicon là một sự kiện lịch sử. Nhưng rất nhiều người khác cũng vượt con sông đó, và hành động của họ không phải điều lịch sử quan tâm. Những người vượt sông đó, ở đây có thể hiểu, không phải là sự kiện. Thời gian trôi qua cũng làm thay đổi ý nghĩa của sự kiện. Dưới thời Đế quốc Anh, vụ nổi dậy quân sự năm 1877 được coi vụ Nổi loạn Ấn Độ, và, bởi nổi loạn là việc quân nổi loạn chống lại nhà cầm quyền hợp pháp, cách gọi đó, vào theo đó là ý nghĩa lịch sử, đã bị bóp méo. Lịch sử Ấn Độ ngày nay coi đó là Khởi nghĩa Ấn Độ, khiến nó trở thành một sự kiện hoàn toàn khác, mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Quá khứ được sửa đổi liên tục dựa theo thái độ của hiện tại.

Tuy nhiên, ở phương Tây thế kỷ XIX, đúng là có sự đồng thuận khá phổ biến về bộ mặt của hiện thực. Những tiểu thuyết gia vĩ đại thời đó – Gustave Flaubert, George Eliot, Edith Wharton, vân vân – có thể nói rằng họ và độc giả của họ, nhìn chung, đồng ý về bản chất của hiện thực, và những cuốn tiểu thuyết hiện thực lỗi lạc đã được xây dựng trên nền tảng đó. Nhưng sự đồng thuận đó chỉ xây dựng trên một nhóm người chuyên biệt . Đó là tầng lớp trung lưu da trắng. Những quan điểm của, ví dụ, dân thuộc địa, chủng tộc thiểu số - những quan điểm từ thế giới khác xa với hiện thực của giới tự bản được khắc họa trong, có thể kể ra, The Age of Innocence (Thời thơ ngây) hoặc Middlemarch (Thị trấn Middlemarch) hoặc Madame Bovary (Bà Bovary) – phần lớn bị xóa khỏi câu chuyện. Tầm quan trọng của những vấn đề xã hội nổi cộm cũng thường bị gạt ra rìa. Trong toàn bộ các tác phẩm của Jane Austen, các cuộc chiến của Napoleon hiếm khi được nhắc tới; trong sự nghiệp đồ sộ của Charles Dickens, sự tồn tại của Đế quốc Anh chỉ được lướt qua.

Trong thế kỷ XX, dưới áp lực của những chuyển biến khổng lồ trong xã hội, sự đồng thuận của thế kỷ XIX tỏ ra mỏng manh, những quan điểm về hiện thực bắt đầu trông, có thể nói, giả dối. Đầu tiên, một số tác giả vĩ đại nhất tìm cách ghi lại hiện thực đang biến chuyển bằng cách sử dụng các phương pháp của văn học hiện thực – như Thomas Mann trong Buddenbrooks (Gia đình Buddenbrook) hay Junichiro Tanizaki trong The Makioka Sisters (Các chị em nhà Makioka) – nhưng dần dần văn học hiện thực ngày một trở nên khó nắm bắt, và các nhà văn từ Franz Fafka tới Ralph Ellison và Gabriel Garcia Marquez đã sáng tạo theo cách khác đi, phi thực hơn, kể lại sự thật bằng những cách rõ ràng không thật, sáng tạo ra một loại hiện thực mới, như một phép màu.

Tôi đã tranh luận, rất nhiều trong cuộc đời viết văn của mình, rằng sự sụp đổ của cái đồng thuận xưa cũ về hiện thực chính là hiện thực quan trọng nhất bây giờ, và rằng thế giới có thể được diễn giải tốt nhất dưới dạng xung đột và những câu chuyện bất tương hợp. Ở Kasshmir và ở Trung Đông, ở cuộc chiến giữa nước Mỹ cấp tiến và triều đại của Trump, chúng ta có thể thấy những ví dụ về sự bất tương hợp đó. Tôi cũng giữ quan điểm rằng kết quả của thái độ mới mẻ, nhiều tranh cãi, thậm chí khiêu khích về hiện thực có quan hệ mật thiết với văn học – rằng chúng ta không thể, hay không nên, giả vờ như nó không tồn tại. Tôi tin rằng việc đa dạng những giọng diễn thuyết có ảnh hưởng tới công chúng là điều tốt, làm phong phú nền văn học của chúng ta và giúp hiểu biết của chúng ta về thế giới thêm sâu rộng.

Và giờ đây, tôi, cũng như tất cả mọi người, phải đối mặt với một câu hỏi hóc búa thật sự. Chúng ta phải tranh luận thế nào, khi một mặt, hiện thực giờ đây cần phải đa chiều, đứt gãy và phân mảnh, mặt khác, hiện thực là một điều rất cụ thể, một chuỗi những điều bất tranh cãi cần được bảo vệ trước những cuộc tấn công của, nói thẳng ra, chính quyền Modi ở Ấn Độ, những người ủng hộ Brexit ở Anh, và Tổng thống Mỹ? Làm thế nào để chống lại những khía cạnh tồi tệ nhất của Internet, một vũ trụ song song trong đó những thông tin quan trọng và những thứ rác rưởi cùng tồn tại, bên nhau, với, rõ ràng, cùng cấp độ quyền lực, khiến mọi người khó khăn hơn bao giờ hết trong việc tách chúng ra? Làm thế nào để chống lại sự xói mòn về nhận thức của công chúng với “những sự kiện cơ bản”, những sự kiện khoa học, những sự thật được chứng thực về biến đổi khí hậu hay tiêm chủng cho trẻ nhỏ? Làm thế nào để chống lại các chính sách mị dân mà nhà cầm quyền đưa ra để làm suy yếu niềm tin vào sự thật của công chúng, để nói với các cử tri của họ rằng, “Đừng tin gì ngoài tôi, vì tôi chính là sự thật”? Chúng ta phải làm gì đây? Và, nói riêng, vai trò của nghệ thuật, vai trò của văn học ở đây là gì?

Tôi không giả vờ là mình có câu trả lời hoàn chỉnh. Tôi thật sự nghĩ rằng chúng ta cần thừa nhận rằng bất kỳ ý tưởng về thực tế nào của xã hội cũng phải là kết quả của tranh luận, và chúng ta cần nỗ lực để chiến thắng. Dân chủ không có chỗ cho lịch thiệp. Nó thường là hét vào mặt nhau ở nơi công cộng. Chúng ta cần tham gia tranh luận nếu có cơ hội chiến thắng. Về phần các nhà văn, chúng ta cần xây dựng lại niềm tin của độc giả vào những lý lẽ có căn cứ, và để tiểu thuyết làm tốt vai trò của nó – là xây dựng, giữa người viết và người đọc, sự hiểu biết về thực tại. Tôi không có ý xây dựng lại cái đồng thuận nhỏ hẹp, khu biệt của thế kỷ XIX. Tôi muốn một cái nhìn rộng hơn, nhiều tranh cãi hơn về xã hội trong văn học hiện đại. Khi chúng ta đọc một cuốn sách mình thích, thậm chí ái mộ, chúng ta đồng tình với những gì nó khắc họa về cuộc sống. Vâng, chúng ta nói, đó là cách chúng ta đối xử với người khác, đó là sự thật. Đó có thể chính là nơi văn học hữu ích nhất. Chúng ta có thể khiến mọi người đồng tình, giữa thời đại bất đồng tận gốc rễ này, về sự thật của những bất biến vĩ đại, đó là bản chất con người. Hãy bắt đầu từ đó.

Ở Đức, sau Thế chiến II, các tác giả của cái gọi là Trümmerliteratur, hay “văn học đổ nát” cảm thấy cần tái thiết lại ngôn ngữ của họ, thứ đã bị chủ nghĩa Phát xít đầu độc, cũng như đất nước họ, đang nằm trong đổ nát. Họ hiểu rằng thực tế, sự thật, cần khôi phục lại từ đầu, với ngôn ngữ mới, giống như những thành phố bị đánh bom cần xây dựng lại. Tôi nghĩ chúng ta nên học hỏi họ. Chúng ta phải đứng lên một lần nữa, dù vì những lý do khác nhau, giữa đống đổ nát của của sự thật. Chính chúng ta – những nhà văn, nhà tư tưởng, nhà báo, nhà triết học – được giao nhiệm vụ xây dựng lại niền tin của độc giả về thực tế, đức tin của họ về sự thật. Và làm điều đó với một ngôn ngữ mới, bắt đầu từ đầu.

 

Thư Vĩ dịch

Nguồn Văn nghệ số 26/2018

 

Tin liên quan

“Ode to Joy” của Beethoven vang lên trong thời kỳ khủng hoảng corona

Ở Italy, kể từ khi dịch bệnh bắt đầu, mọi người đều hát ca và chơi nhạc trên các khung cửa sổ và bao ...

Mãi một nghiệp văn

Gặp ông trong một chiều cuối tuần của một ngày đầu đông trong căn hộ nhỏ mà ông được Trường Đại học ...

Helmut Preissler và tập thơ viết về Việt Nam

...Helmut Preissler là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất thuộc thế hệ trưởng thành dưới chế độ ...

Gương mặt mấy nhà văn – nghệ

...Tô Hoài là nhà văn không chịu “để rơi” bất cứ chuyện gì dù tình cờ qua tay ông. Ông nhớ gần như h ...

Chuyện ít biết về nhà báo, nhà văn, nhà cách mạng Trần Đình Long

Năm 2020 này kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám 1945; dân chúng Hà Nội dần mới biết các nhân vật tro ...

Gương mặt mấy nhà văn – nghệ

Theo một thống kê không chính thức, thì nhà thơ Tạ Hữu Yên là người có thơ được phổ nhạc nhiều nhất ...

Một bài từ về dịch cúm ở Nam Bộ đăng trên báo Nông-cổ Mín-đàm

Nông-cổ mín-đàm (農賈茗談), cũng có tên tiếng Pháp là Causeries sur l’agriculture et le commerce. Tên củ ...

Hành trình kiếm tìm bản ngã của chính mình

Trên hành trình của cuộc sống, nhiều người trong số chúng ta đã có những kí ức, kỉ niệm vui buồn, nh ...

Nhà thơ Đặng Hiển – Thày tôi!

Nhà thơ Đặng Hiền, tên thật là Đặng Đức Hiển, sinh ngày mùng 9/5/1939, quê quán Hành Thiện, Xuân Trư ...

"The Mirror and the Light" đạt doanh thu khổng lồ trong tuần đầu tiên

Tác giả Lâu đài sói thu được những tín hiệu rực rỡ khi cuốn sách cuối cùng trong bộ ba tác phẩm về T ...

Cuốn sách nhỏ bằng bao diêm có giá gần 4,5 tỷ đồng

Cuốn sách nhỏ dày 31 trang có kích thước chỉ bằng bao diêm, nhưng ước đoán sẽ đạt mức giá tương đươn ...

Hình ảnh mẹ trong hai nhà thơ Nga

A.Pushkin (1799-1837), Sergei Esenin (1895-1925) là hai nhà thơ lớn trong số rất nhiều nhà thơ lớn đ ...