June 26, 2024, 5:14 am

Viết mới về một đề tài “cũ”

Hướng tới kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954/2024), kỷ niệm 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944/2024 và 50 năm ngày thống nhất đất nước (30-4-1975/2025), cũng là những dịp để nhìn nhận lại dòng văn học đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Đáng quan tâm nhất là những vấn đề tương lai của dòng văn học này, như: xây dựng đội ngũ, cách tân nghệ thuật và con đường đi đến trái tim bạn đọc trong thời đại mà đời sống chính trị - xã hội và khoa học - công nghệ đã và đang có những thay đổi lớn.

Hình ảnh trong Đừng đốt - phim chuyển thể từ Nhật ký Đặng Thùy Trâm

1. Ngày nay, mặc dù xuất hiện một vài ý kiến chưa thống nhất khi đánh giá thành tựu văn học đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng (sau đây xin được nói gọn là văn học về chiến tranh và người lính), nhưng không ai có thể phủ nhận rằng: dòng văn học ấy đã có những đóng góp hết sức quan trọng vào sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Có thể nói, trong thời kỳ kháng chiến cứu nước, văn chương và chính trị đã tạo nên một cuộc gặp gỡ đẹp và hay, vì một mục đích hết sức thiêng liêng cao cả. Văn học trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc đã làm nhiệm vụ chính trị một cách tự giác, nhà văn tìm thấy niềm cảm hứng sáng tạo lớn của mình trong nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên, đó không phải là một dòng văn học “minh họa” như một số người gần đây nhân danh “đổi mới” để phán xét. Thực tiễn đời sống văn học cho thấy văn thơ thời kỳ kháng chiến cứu nước có nhiều tác phẩm có sức sống lâu dài, có giá trị trên nhiều mặt. Ngày nay, nếu muốn tìm hiểu về những ngày u ám nhất nhưng cũng bất khuất nhất của người dân Nam Bộ trong những năm tháng chiến tranh, không thể không nhắc đến các tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Văn Bổng v.v... Hoặc muốn hiểu dân tộc Việt Nam đã tồn tại mãnh liệt ra sao trên mảnh đất Khu Năm máu lửa và kiên cường, không thể không nhớ tới những trang viết rất hiện thực nhưng cũng đầy chất lãng mạn của Phan Tứ; nếu muốn biết bộ đội và thanh niên xung phong lạc quan ra sao ngay trong những ngày bom đạn, không thể không nhắc tới một phong cách thơ độc đáo Phạm Tiến Duật. Và nếu muốn tìm hiểu bộ đội chủ lực đã chiến đấu và hy sinh ra sao, không thể không nhắc tới những trang viết vừa nồng nhiệt vừa triết lý sâu sắc của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Xuân Thiều...

Tuy nhiên, trên các diễn đàn chính thống, đôi khi cũng có những nhận định rằng chúng ta chưa có những tác phẩm đỉnh cao, chưa xứng tầm với sự nghiệp kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc. Nhiều người tâm đắc với nhận định trên đây, nhưng cũng không ít người phản biện khá thuyết phục.

Trên tinh thần đổi mới hiện nay mà nhìn nhận, thì trong bối cảnh lúc đó, các nhà văn phải sáng tác trong một cái “khung” hẹp, đôi khi phải hi sinh nghệ thuật vì yêu cầu của thời cuộc, nhưng có một thực tế không thể phủ nhận là văn học về chiến tranh và người lính một thời gian dài là món ăn tinh thần của đông đảo công chúng và đó là thành tựu lớn nhất. Nếu có chăng chút đáng tiếc, thì văn học viết về chiến tranh và người lính từ trước đến nay vẫn chưa rút ra một điều gì đó mang “tầm” khái quát triết học. Các thế hệ nhà văn của chúng ta vừa qua mới làm được cái việc là đưa tư tưởng vào trong văn học, nhưng tư tưởng và đạo đức không phải là văn học. Cách phản ánh tư tưởng bằng nghệ thuật ngôn từ mới là văn học và chỉ có các nhà văn đồng thời là nhà tư tưởng thì mới làm được điều đó!

2. Như đã nói, do yêu cầu của thời cuộc nên trong kháng chiến cứu nước, đôi khi nhà văn phải chịu hi sinh nghệ thuật, phải đặt cái “ta” trên cái “tôi”. Nhưng sau chiến tranh, văn học viết về chiến tranh khác rất nhiều, khác trước hết là ở sự đổi mới tư duy nghệ thuật. Trước năm 1975, điểm nhìn nghệ thuật của nhà văn là điểm nhìn sử thi. Trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, cô Nguyệt ở trong cabin ôtô cũng chính là “mảnh trăng cuối rừng” ở bên ngoài buồng lái. Đó là hình ảnh tượng trưng lãng mạn trong chiến tranh. Hoặc như trong Dấu chân người lính Nguyễn Minh Châu cũng “thi vị hóa” sự khốc liệt và gian khổ, hi sinh... Nhưng sau chiến tranh, Nguyễn Minh Châu là người tiên phong trong khuynh hướng sáng tác phi sử thi hóa. Văn chương từ đây ít nói về bình diện chiến thắng mà nói về những góc khuất của chiến tranh. Từ Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu đến Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Lính trận của Trung Trung Đỉnh, Đối chiến của Khuất Quang Thụy, Vùng lõm của Nguyễn Quang Hà v.v… thì ngôn ngữ phi sử thi hóa tràn vào trang viết. Ngày trước, các tác giả ấy viết về niềm lạc quan, sự lãng mạn trong chiến tranh… thì bây giờ họ viết về mặt sau của chiến tranh, thế sự hơn, đời thường hơn, có tốt, có xấu...

Văn học “hậu chiến” viết về hình ảnh phía kẻ thù cũng khác. Ngày trước, nhân vật kẻ thù được miêu tả là khát máu, moi tim ăn gan người, là thiếu nhân văn... Nhưng sau năm 1975, nhiều nhân vật kẻ thù trong văn học cũng có văn hóa, lịch sự, trong những khoảnh khắc nào đó họ cũng rất “con người”. Trong chiến đấu họ cũng có khi quyết liệt, không khoan nhượng. Đánh thắng một kẻ thù có văn hóa khó hơn là đánh thắng một kẻ vô văn hóa. Đọc Nhật ký Đặng Thùy Trâm, chúng ta nhận ra hình ảnh người lính phía bên kia có văn hóa cao, nhặt được quyển nhật ký mà trước đó người viết là kẻ nã đạn vào mình, xem qua rồi anh ta đã trân trọng giữ lại: “Đừng đốt! Trong đó đã có lửa.” Anh ta giữ mấy chục năm sau, tìm mọi cách để trả lại cho thân nhân của tác giả quyển nhật ký.

3. Ngày nay, sau gần nửa thế kỷ kết thúc chiến tranh, người viết có độ lùi cần thiết để nhìn về cuộc chiến. Độ lùi giúp người viết bình tĩnh, tỉnh táo hơn, khách quan hơn, toàn diện hơn. Nhưng điều đó cũng bất lợi là càng lùi xa thì tình cảm có thể lắng đọng nhưng sẽ phai nhạt đi, ký ức mờ đi... Người viết lại bị áp lực của cách nhìn, của tư duy thời bình và những vấn đề chính sách tồn đọng sau chiến tranh…

Vậy, thế hệ nhà văn trẻ hôm nay cần những phẩm chất gì của người sáng tạo? Phải chăng là cần cái nhìn, tầm nhìn về cuộc chiến tranh đã qua? Chiến tranh kết thúc đã gần tròn nửa thế kỷ. Một thế hệ nhà văn mới đã hình thành. Họ không quan sát cuộc chiến tranh bằng cuộc đời của mình, bằng sự trải nghiệm của bản thân, mà là quan sát bằng mắt. Họ được chuẩn bị kỹ càng về văn hóa, điều kiện sống và điều kiện học tập tốt hơn. Nguồn tài liệu chiến tranh hiện nay quá phong phú, đầy đủ và tiếp cận rất dễ dàng. Nhưng, khả năng phân tích các tài liệu ấy như thế nào để hiểu ra bản chất cuộc chiến lại là một thách đố. Và nữa, ngày nay chúng ta phải hiểu được câu chuyện chiến tranh Việt Nam không chỉ là của Việt Nam mà là câu chuyện của nhân loại, thì tư duy sáng tác mới “cập nhật” với thời đại. Truyện ngắn Ba người trên sân ga của Hữu Phương, được Nguyễn Quang Lập và Nguyễn Thanh Vân đưa lên màn ảnh, được Liên hoan phim Châu Á - Thái Bình Dương năm 2000 trao giải cao nhất, vì đó không chỉ là câu chuyện sau chiến tranh ở Việt Nam, mà là số phận con người thời hậu chiến có thể ở bất kỳ quốc gia nào.

Theo dõi đời sống văn học những năm gần đây, có nhiều tín hiệu khả quan về đội ngũ nhà văn mới sáng tác về đề tài chiến tranh và người lính. Họ đã bắt đầu tự tin và hình như họ đã tìm được cách giải mã, cách viết về chiến tranh trong thời đại mới. Tất nhiên chúng ta còn phải chờ đợi. Trong quá trình lao động sáng tạo, nhà văn luôn đầy những áp lực. Hiện thực đời sống, hệ sinh thái văn chương và nhu cầu thẩm mỹ của công chúng văn học hiện nay khiến nhà văn càng bị áp lực hơn. Văn học viết về chiến tranh bây giờ đòi hỏi phải ngẫm ngợi nhiều. Ngẫm ngợi để tìm ra những giá trị mới, những bài học mới, những góc khuất cần được bạch hóa... là hết sức cần thiết. Nhưng nếu càng ngẫm ngợi mà càng xa cái mục đích ban đầu của cuộc chiến, thì không còn là văn học nữa. Chiến tranh là hiện thực đã xảy ra không thể thay đổi. Chỉ có cách nhìn, cách viết là phải thay đổi.

Đức Tuyên

Nguồn Văn nghệ số 19/2024


Có thể bạn quan tâm