June 26, 2024, 5:51 am

Những người " điếc không sợ súng"

 

Trường Sơn với những con đường phơi mình dưới trùng trùng bom đạn. Ai đã từng đến với Trường Sơn sẽ không thể nào quên. Không thể nào quên bởi nơi ấy có hình ảnh những con người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hình ảnh những đoàn xe băng mình qua lửa cháy, kịp chi viện cho miền Nam. Với Hồ Văn Chi - Hội viên Hội Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh thành phố Đà Nẵng thì Trường Sơn luôn là một kí ức đẹp của thời hoa lửa.

*  *

Lần ra Hà Nội dự Đại hội Đại biểu Hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn, tôi và anh Hồ Văn Chi được xếp nghỉ chung phòng của một khách sạn. Hà Nội đêm ấy là một “Hà Nội đêm trở gió”. Gió xào xạc reo trên tán lá. Rồi mưa. Mưa trắng trời. Và…cũng nhờ cơn mưa ấy, hai anh em tôi mới có dịp ngồi với nhau thật lâu để “ôn nghèo, kể khổ” về những năm tháng công tác trên dọc dài những cung đường Trường Sơn. Đúng là “ôn nghèo, kể khổ” thật. Bởi chẳng hiểu sao, câu chuyện của chúng tôi sau đó cứ xoay quanh chủ đề “đói”. Bên ấm trà nóng, anh Chi hỏi tôi:

- Ngày trên Trường Sơn cậu ở đơn vị nào?

- Em ở sư đoàn 470, Bộ Tư lệnh 559 ạ.

- Có phải đơn vị mở con đường bí mật để xe tăng và đại quân ta tiến vào giải phóng Ban Mê Thuật không?

- Dạ. Đúng rồi anh.

- Các cậu nghi binh giỏi thật. Mở một con đường dài hàng chục km ngay trước mũi địch mà không để chúng biết.

- Ngày đó bọn em là lính tò te, trên chỉ đạo thế nào thì làm như thế, có hiểu gì về nghệ thuật nghi binh, nghi trang đâu anh. Anh Chi vào Trường Sơn năm nào ạ?

- Lần đầu là năm 1966. Khi mình đang là giáo viên trường Trung cấp Giao thông Vận tải thì được điều đi biệt phái vào đội TNXP 759, làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên tuyến đường 12 ở Quảng Bình.

- Thế còn các lần sau?

- Một lần nữa thôi. Chuyện dài lắm. Để mình kể cậu nghe: Năm 1970, khi mình đang đi dạy trung cấp tại chức cho các đội TNXP thuộc Công trình 2 của Bộ Giao thông Vận tải thì được Nhà trường gọi về. Hôm đó, đích thân ông Nguyễn Hiền, người Quảng Ngãi, là bí thư Đảng uỷ Nhà trường gặp và nói: “Nhà trường cho em lựa chọn một trong hai quyết định. Một là đi học trung cấp ở Liên Xô. Hai là đi vào chiến trường, cụ thể là vào Ban Giao thông Vận tải khu V”. Thật tình, mình cũng trăn trở lắm. Những ngày ở đội TNXP 759 trên tuyến đường 12, mình đã hiểu những vất vả, hy sinh nơi chiến trường lửa đạn. Nhưng ngày đó, khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả vì miền Nam ruột thịt” cứ vang lên trong trái tim mình. Và mình đã quyết định vào chiến trường. Cậu biết không, khi mình quyết định vậy, ông Nguyễn Hiền đứng dậy ôm mình và khóc. Khóc thực sự luôn. Nước mắt ông ấy dàn dụa: “Qua rất xúc động, đã nhiều lần qua xin trở về quê hương miền Nam để chiến đấu, nhưng trên không cho, vì qua nhiều tuổi rồi”.

Ông Hồ Văn Chi cùng Hội Trường Sơn Đà Nẵng trong chuyến thăm lại chiến trường xưa.         

Lời anh Chi như vọng lại từ một nơi rất xa. Hình như anh đang xúc động khi nhớ lại dòng nước mắt chia tay của ông Bí thư Đảng uỷ. Anh bỏ kính, dụi dụi đôi mắt. Tôi thấy có cái gì như là giọt nước ứa ra từ đôi mắt trũng sâu của anh. Hớp ngụm trà nóng, anh hỏi tôi:

- Ở Trường Sơn cậu ngán nhất điều gì?

- Sốt rét anh ạ.

- Theo cậu, nguyên nhân của sốt rét là do đâu?

- Do muỗi. Muỗi vằn đó anh.

- Không sai. Nhưng chưa chuẩn. Theo mình, nguyên nhân của sốt rét là do ngày ấy anh em mình đói ăn, đói ngủ, sức đề kháng kém. Chứ ăn uống đầy đủ như bây giờ thì dù có bị muỗi đốt cũng chẳng đến nỗi sốt rạc người như vậy.

- Thế với anh, những ngày ở Trường Sơn anh ngán nhất điều gì?

- Đói. Cậu đã đọc thơ của Lê Minh Quốc nói về cái đói nơi chiến trường chưa? “Không sợ giặc, không sợ đạn bom rơi/ Cái sợ nhất lúc này là đói/ Đói vàng mắt, đói long đầu gối/ Đói phạc phờ, đói thừa cả chân tay”. Không bịa đâu. Lê Minh Quốc viết chân thực đấy. Thời các cậu đi B chắc đã khá hơn, chứ thời bọn mình thì cái đói luôn ám ảnh.

- Dạ. Thời bọn em chỉ có thể nói là chưa no chứ không đến mức “Đói vàng mắt” đâu anh.

Hớp một ngụm trà rồi anh khẽ khàng: “Ngày mình về Ban Giao thông Vận tải khu V, vấn đề ăn uống chủ yếu là tự túc, trên cung cấp chỉ một phần thôi. Bọn mình ở trong rừng phải tự trồng bắp, trồng sắn để ăn. Mình nhớ, năm 1970, bọn mình làm khu tăng gia khá rộng ở một cánh rừng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Khi bắp, sắn vừa chớm mùa thu hoạch thì bị địch rải chất độc lên khu tăng gia. Biết vậy, nhưng bọn mình vẫn phải vào khu tăng gia để thu hoạch. Sắn thì chặt sát gốc, để đó. Bắp thì hái về thả xuống suối ngâm 2 ngày 2 đêm rồi vớt lên nấu ăn. Dù đã “tẩy độc” nhưng khi ăn vẫn còn hăng mùi thuốc. Vẫn phải ăn. Không ăn thì chết đói à. Vậy mà “bắp chất độc” cũng chẳng còn mà ăn. Bọn tớ lại lên rẫy đào sắn mang về, cũng thực hiện công nghệ “tẩy độc” như thực hiện với bắp. Biết là độc hại những vẫn phải ăn. Ăn để sống. Ăn để còn sức mà chiến đấu. Chuyện này kể cho những người đã đến với Trường Sơn còn được chứ kể cho lớp trẻ bây giờ chắc chẳng ai tin. Có khi họ còn bảo “điếc không sợ súng”.

Câu chuyện của anh Chi làm tôi ngộ ra bao điều. Thành ra, ở nơi Trường Sơn lửa cháy, đâu chỉ có lực lượng bộ đội, TNXP, dân công hoả tuyến, mà còn có bao lực lượng phối thuộc khác. Họ cũng chịu bom cày, đạn xới như bộ đội chúng tôi. Thậm chí còn chịu đói khát đến mức phải ăn cả sắn, bắp bị nhiễm độc. Chẳng nhẽ họ là những người “điếc không sợ súng”? Không. Họ ăn để sống. Ăn để còn sức mà “chiến đấu đến hơi thở cuối cùng”. Chao ôi! Thế hệ cha anh của chúng ta là thế đấy. Tôi thầm nể phục và trân trọng lòng kiên trung, ý chí vượt khó của lớp lớp cha anh đi trước và của anh Chi. Có lẽ chính mảnh đất Nghệ An quê anh, nơi mà nói như nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi: “Gió Lào thổi rạc bờ tre/ Mới nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn” đã cho anh sức chịu đựng dẻo dai, lòng nhiệt tình, sự hăng say và khát vọng vươn tới, giúp anh đi qua những tháng ngày gian khó với những thành tích đáng trân trọng: Ba năm liền là CSTĐ (1970,1971,1972).

- Ngày ấy chị Nhuần cũng ở cơ quan với anh à?

- Không. Vợ mình là dược sĩ. Đi B năm 1972. Ở Ban Dân y khu V. Cậu hỏi mình mới nhớ. Mình đến với vợ mình cũng là do cái đói đấy.

Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, anh lại say sưa: “Những năm 1971,1972, chiến trường khu V ác liệt vô cùng. Khi ấy mình là đảng viên trẻ. Nhiệt huyết lắm. Cấp trên luôn tin tưởng và thường giao nhiệm vụ đi thị sát các tuyến đường chiến lược. Một lần, mình và anh Đặng Quang Biên, một kĩ sư người Quảng Ngãi đi phát tuyến để chuẩn bị mở con đường mới nhằm tránh đường 16 đã bị địch kiểm soát. Tình cờ, bọn mình phát tuyến đi sát đơn vị K45 (kho 45) thuộc Ban Dân y khu V. Đúng lúc bọn mình đã dùng hết số lương thực mang theo, đành phải vào K45 “xin ăn”. Gặp một cô gái dáng người nhỏ nhắn, xanh, gầy. Nhưng đôi mắt thì ánh lên sự thân thiện. Mình thấy trong đôi mắt ấy có cái gì như ngọn lửa đang âm ỷ cháy, thể hiện nghị lực và sự thông minh. Giọng nói xứ Nghệ thì không lẫn vào đâu được. Qua những lời thăm hỏi, biết mình là đồng hương, nàng mừng lắm. Ngày ấy, giữa mênh mông rừng thẳm, gặp được đồng hương là vui lắm rồi. Nàng dẫn bọn mình đến gặp Ban Chỉ huy kho. Hôm đó bọn mình được một bữa no nê. Từ buổi đầu “duyên kì ngộ” ấy, dù cách nhau sáu, bảy cây số đường rừng nhưng thi thoảng bọn mình vẫn đến thăm nhau. Mình sổ mũi, nhức đầu thế nào nàng cũng đến. Lúc thì vài ống B-12, lúc thì vài chục viên B-1. Chẳng rõ chúng mình đã nói với nhau những gì? Chắc chỉ là chuyện đồng hương, đồng khói vậy thôi, chẳng dám nói đến tình yêu, tình báo gì đâu. Nhưng có lần, trước lúc ra về, nàng cầm tay mình: “Em về nhé”. Lúc ấy, đôi mắt nàng có vẻ u buồn, lo lắng, dù nụ cười vẫn nở trên môi. Cái nắm tay ấy, cái nụ cười ấy cứ theo mình mãi. Vài ngày không gặp nàng mình lại thấy vắng thiếu cái gì đó. Cho đến một chiều, mình đến thăm nàng, khi về, nàng tiễn mình ra tận mé rừng. Mảnh trăng đầu tuần treo lơ lửng trên đầu, lặng lẽ toả thứ ánh sáng mờ ảo xuống núi rừng mênh mông. Bất chợt, nàng đưa cả hai tay ôm chặt lấy mình, ngực nàng ép sát vào người mình, nóng bỏng. Mình thấy toàn thân nóng ran như ngọn núi lửa sắp sửa tuôn trào. Và… chúng mình đã trao nhau những nụ hôn đầu, đắm đuối. Từ hôm ấy mình biết, mình và bà ấy không thể xa nhau. Nói thật, nếu, mình là người ưa hình thức thì chẳng bao giờ mình đến với bà ấy đâu. Bà ấy gầy lắm. Cậu tính, đến ngày cưới mà chỉ có 37kg. Nhưng mình nể trọng lòng nhiệt tình, sự thật thà và khát vọng vươn lên của bà ấy. Vất vả, bom đạn như thế mà vẫn quyết tâm phấn đấu để trở thành đảng viên. Cậu cũng biết đấy, ngày đó để được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phải phấn đấu ghê lắm. Thẩm tra lí lịch thì khó khăn. Lại còn thử thách lên, thử thách xuống. Vậy mà bà ấy vẫn kiên trì.

- Anh chị cưới nhau năm nào ạ?

- Năm 1976. Năm 1977 thì sinh con gái đầu lòng. Ôi chao, ngày ấy mới cực làm sao. Hai vợ chồng, một đứa con ở trong gian nhà tập thể tám mét vuông. Không có cái mà ăn chứ đừng nói đến đường, sữa cho con. Khi đó mình đang học chuyển cấp đại học tại trường Giao thông Vận tải Hà Nội, khó khăn quá đành phải bỏ về để phụ vợ nuôi con và theo học tại chức Bách khoa Đà Nẵng. Năm 1979, bọn mình sinh cháu thứ hai. Khó khăn càng chồng chất. Nhờ sự giúp đỡ của anh em đồng đội mà vợ chồng mình cũng lần lữa vượt qua. Thực tình, ngày đó cả nước khó khăn chứ chẳng riêng gì vợ chồng mình. Trước ở rừng thì ăn độn sắn tươi. Giờ hoà bình thì ăn độn sắn khô. Dường như cái đói cứ bám riết lấy vợ chồng mình. Đến năm 1992, khó khăn quá, bà ấy đành phải xin nghỉ hưu non, về lăn lộn với thương trường, lo kinh tế và chăm con. Cũng nhờ bà ấy nhanh nhẹn, chịu thương, chịu khó nên cuộc sống gia đình cũng dần khá lên, giúp mình yên tâm công tác. Năm 1992, mình được bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty 512. Cứ nghĩ làm Giám đốc thì sướng. Ai ngờ cái khổ vẫn chẳng buông tha. Mình cùng anh em trong ban Giám đốc phải lăn lộn lắm mới từng bước đưa công ty đi lên từ con số không. Đến năm 1997, mình được đề bạt làm Phó Tổng Giám đốc, Tổng Công ty Xây dựng giao thông V. Năm 2005 thì nghỉ hưu. Từ năm ấy, hai vợ chồng lăn vào làm kinh tế. Làm đủ việc. Mình thì làm thiết kế, thi công nhà dân, nhận thi công công trình thuỷ điện. Bà xã thì làm dịch vụ ăn uống, lưu trú… Làm ăn cũng lúc lên, lúc xuống, thương trường mà. “Đói thì đầu gối phải bò” thôi. Rồi trời cũng chẳng phụ công người. Kinh tế gia đình theo ngày tháng mà khá dần lên. Năm 2016, cả hai vợ chồng tham gia vào Hội Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh thành phố Đà Nẵng.

 

Câu chuyện của anh Chi cứ làm tôi trăn trở. Phải chăng, chính cái đói, cái khổ đã nếm trải trong cuộc đời đã thắp lên trong anh ngọn lửa nghĩa tình đồng đội sâu đậm, nuôi dưỡng trong anh một khát vọng vươn tới. Vì vậy, khi cuộc sống khá hơn, anh luôn sẵn lòng chia sẻ với những mảnh đời còn gian khó. Là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh thành phố Đà Nẵng, anh luôn đau đáu với hoạt động “Vì nghĩa tình Trường Sơn, Vì nghĩa tình đồng đội”. Sẵn lòng đóng góp, ủng hộ những gia đình hội viên khó khăn. Trong các sự kiện của Hội, dù ít, dù nhiều anh đều ủng hộ. Ngôi nhà riêng của vợ chồng anh tại số 568/40, đường Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng luôn là điểm đến giao lưu vui vẻ của những người đồng đội đã cùng anh đi qua những tháng ngày bom đạn Trường Sơn.

Đêm ấy ở khách sạn, tôi và anh Chi trò chuyện đến tận khuya. Câu chuyện của anh đã khép lại nhưng tôi thì mãi trăn trở, nghĩ suy. Tôi thầm cảm ơn anh đã thắp trong tôi ngọn lửa khát vọng cống hiến, cho tôi hiểu thêm về ý nghĩa và triết lí cuộc sống, khơi dậy trong tôi niềm tự hào về những năm tháng gian lao trên dọc dài những cánh rừng Trường Sơn. Tôi luôn trân trọng những ngày tháng ấy, trân trọng và ngưỡng mộ sự chịu đựng lớn lao của anh, của những con người đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình giữa núi rừng Trường Sơn thời hoa lửa./.

Đại tá, PGS, TS Đỗ Ngọc Thứ

                             


Có thể bạn quan tâm