April 17, 2024, 6:10 am

Những lời tâm sự...

CHÀO MỪNG HỘI NGHỊ NHỮNG NGƯỜI VIẾT VĂN TRẺ TOÀN QUỐC LẦN THỨ X 

 

Chào mừng Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ X, báo Văn nghệ công bố lại ý kiến của một số nhà văn lão thành tại những Hội nghị lần trước về tác giả trẻ cùng tác phẩm của họ.

Hôm nay, vừa là những mẩu chuyện văn nghệ thú vị của các bậc tiền bối, cũng vừa là những lời tâm sự sâu sắc, trao đổi kinh nghiệm quí báu về sáng tạo văn học vẫn còn có ý nghĩa thời sự và có giá trị lâu dài đối với nhà văn trẻ nói riêng và giới viết văn nói chung.

Văn nghệ

Hội nghị nhà văn trẻ lần thứ nhất

Vân Long

Nhà thơ Vân Long (1933-2022)

Trước năm 1954, cánh học sinh chúng tôi trong Hà Nội tạm chiếm yêu văn thơ thường tụ tập thành nhóm, rồi châu tuần quanh mấy trang văn nghệ học sinh của các báo Quê hương, Giác Ngộ, Cải Tạo… Anh Băng Sơn với tôi trong một nhóm, chị Đông Mai (chị ruột Xuân Quỳnh) ở một nhóm khác…Thấy bài mình được in (không chỉ ở trang văn nghệ học sinh) thì rất mừng nhưng không dám ló mặt đến tòa báo, sợ các anh ấy chê là trẻ con, coi thường, lần sau không in cho nữa, còn nói gì đến báo biếu và nhuận bút, như điều không tưởng!... Lúc ấy, chúng tôi chỉ biết đến kháng chiến qua tờ Nhựa sống (in thạch của tổ chức học sinh kháng chiến nội thành), có người được đọc, có người tham gia lưu hành bí mật qua các ngăn bàn học.

Sau năm 1954, các nhà văn đàn anh đi kháng chiến về tiếp quản Hà Nội, mỗi lần hội họp lớn đều nhớ đến chúng tôi. Lúc đó, tôi đã có vài chục bài thơ in báo, và bắt đầu in trên các báo Độc Lập, Văn học (tiền thân của Văn Nghệ), Văn nghệ quân đội… Đến năm 1957 thì in chung một tập thơ ba người với Lê Tám, Giang Quân (Đường vào tim).

Đến hội nghị Thái Hà ấp (1959) tôi đã quen mặt các nhà văn đàn anh, cho nên thu nhận của tôi chủ yếu là ở nội dung những điều được nghe truyền đạt về cách sống, cách viết.

Nhà văn Nguyễn Đình Thi khuyên chúng tôi phải nhất trí giữa sống và viết, sống có tốt đẹp, viết mới tốt đẹp. Điều này quả có ảnh hưởng tốt đến tôi vài chục năm sau. Nhưng cũng có điều ông vừa nói đã cảm thấy mất thiêng. Ông vừa khuyên nhà văn trẻ nên viết thật về những điều thân thuộc trong môi trường sống của mình thì nhà viết trẻ Nguyễn Quang Thân lên phát biểu ý kiến thú thật khi viết Một chuyến đi Nga, mình chưa đi Nga bao giờ (Tôi nhớ Một chuyến đi Nga là ký sự, nay anh Nguyễn Quang Thân kể là truyện ngắn).

Có lẽ muốn nhấn mạnh phải phản ánh hiện thực, nên các đàn anh có phần buông lơi trí tưởng tượng của các nhà văn trẻ (thời kỳ này có nhà văn trẻ viết tiểu thuyết về Côn Đảo cũng chỉ qua nghe các nhân vật kể chuyện lại).

Nhà văn Nguyễn Công Hoan thì lúc nào cũng hồn nhiên và hồn hậu, không thích răn dạy mọi người. Tôi nhớ nhất câu ông ví von: Làng văn như một cái chợ, ai muốn vào thì vào, và ra lúc nào cũng chẳng ai hay. Đó là về phía các thầy. Về phía trò thì tôi nhớ đó là lần đầu mấy nhà văn nữ xuất hiện trước đồng nghiệp: Chị Vũ Thị Thường sau Cái hom giỏ, chị Hoàng Thị Minh Khanh sau mấy bài thơ về dệt lụa, soi gương của chị ở làng dệt Vạn Phúc - Hà Đông…

Điều đặc biệt này có một không hai trên thế giới: Có một người về dự hội nghị người viết trẻ chưa… biết chữ. Đó là chị Hoàng Thị R, công nhân nhà máy dệt Nam Định. Nguyên do: Hồi đó người viết trẻ thuộc thành phần công nhân được đặc biệt ưu đãi. Không có lý gì thành phố có nhà máy dệt Nam Định nổi tiếng lại không có đại biểu! Giấy mời lưu không được gửi đến Công đoàn thành phố, Công đoàn thành phố đặc cách gửi về Nhà máy Dệt Nam Định. Nhìn quanh nhà máy, không thấy nhà văn nào, nhưng có một chị công nhân cứ cất lời là thành ca dao, thành vè, toàn về những con người thật của nhà máy cho nên chị em công nhân khác đã thuộc và truyền đi. Còn ai đáng đi dự hội nghị sáng tác hơn chị R?

Một kỷ niệm vui nữa là tôi gặp lại người bạn thuở nhỏ ở ngay căn gác trên căn hộ nhà tôi thuê: 4bis Miribel (Trần Nhân Tông - Hà Nội). Anh Khải hơn tôi 4 tuổi nhưng chả thấy lớn hơn tôi tí nào. Hai chúng tôi thường nhịn ăn quà sáng, lấy tiền đi thuê truyện. Tiền thuê một xu một ngày, nhưng tôi đọc nửa ngày đã xong. Trả sớm cũng không lấy được nửa tiền, chúng tôi bèn nghĩ ra cách trao đổi với nhau. Vậy là một xu có thể đọc hai cuốn. Chúng tôi đọc đủ các loại truyện.

Anh Khải và tôi có lúc chơi trận giả. Anh Khải cùng “lâu la trên núi” đánh xuống. Tôi cùng đồng bọn đánh lên sơn trại. Anh Khải cao ngồng nhưng yếu ớt, anh thường giơ chổi phất trần lên bảo: Đây là chiếc phất trần có phép, khi tớ giơ lên thì các cậu phải ngã ra bất tỉnh, nghe chưa?

Khi toàn quốc kháng chiến tôi và anh Khải mỗi người đi một ngả. Mãi đến năm 1959 có hội nghị người viết trẻ ở Thái Hà ấp chúng tôi mới lại gặp nhau. Gặp lại người bạn thuở nhỏ, chúng tôi thật vui mừng, hàn huyên đủ thứ chuyện. Cuối cùng tôi mới hỏi chuyện viết lách. Anh Khải lúc đó đeo quân hàm thượng úy, vẫn trắng trẻo nhưng không xanh bủng như ngày xưa.

- Gần đây anh Khải viết gì?

Câu hỏi hàm ý thăm dò. Lúc ấy tôi có chút tự thị: chả gì mình cũng đã in mấy chục bài thơ, lại hay có mặt trên báo Văn học, còn ông Khải này chắc cũng ở diện sáng tác quần chúng trong bộ đội!

Nghe tôi hỏi, anh Khải khiêm tốn:

- Mình mới in Xung đột tập I, đang sửa tiếp phần II.

Tôi choáng váng cả người: Sao anh lại là ông Nguyễn Khải ấy được! Đọc Xung đột I, tôi rất phục tác giả, chưa nói đến tài năng, chỉ việc hiểu đạo và những người công giáo như vậy, tác giả phải là người đạo gốc. Mà “anh Khải thuở nhỏ” của tôi chỉ tin ở những quyền phép hoang đường trong những truyện tu tiên, luyện kiếm của loại sách kiếm hiệp ba xu. Đời sống bộ đội trong kháng chiến đã giúp anh Khải thay đổi đến thế!

(Nguồn báo Tiền phong)

 

Đọc lại và suy ngẫm

(Nhân Hội nghị Nhà văn trẻ lần thứ V)

Bùi Hiển

* Có lần tôi ghi sổ tay:

Nhà văn Bùi Hiển (1919-2019) 

Nhớ một chuyện buồn cười. Hồi ấy tôi đi thực tế vùng trung du. Một anh chàng trạc ba mươi nghe tin tìm đến, khen tôi vài ba câu, rồi nói huyên thuyên đủ thứ chuyện. Anh ta bảo đang tập viết từ mấy năm nay, cứ rúc vào bụi ngồi một mình để suy nghĩ. Khoe có vợ làm cán bộ ở tỉnh bên (rút ví cho xem ảnh: “Người ta bảo là đẹp”), ba năm nay anh ta chỉ sang gặp có một ngày, còn phải để thời giờ đọc sách và tán gái. Khoe có bốn nhân tình. “Nhưng tôi có làm gì họ đâu! Có điều là phải yêu thì mới viết được về tình yêu” (Con mắt nhìn xa, vẻ đăm chiêu). “Viết văn khó lắm anh nhỉ? Tôi tập viết mãi mà không thành. (Tự dưng cao giọng). Khổ lắm! Khổ lắm! Khổ lắm! (Đưa tay gãi đầu rất mạnh, gào to hơn nữa, thiết tha hơn nữa). Khổ mà lại say mê lắm! (Lại gãi đầu). Truyện Nguyễn Ngọc Tấn mơ mộng anh nhỉ. Truyện Pautopxki nữa… vân vân.

Chuyện xảy ra đã hai mươi năm (đó là khi tôi ghi mẩu chuyện này, cộng đến hôm nay nữa vị chi là ngót nghét bốn mươi năm). Dễ thường lúc này anh bạn ấy vẫn đang nghiền ngẫm chuyện viết lách và vẫn còn kêu khổ.

Tôi rút ra bài học: Tất nhiên viết văn thì cũng phải công phu, nhưng đừng kêu lên cái điều ấy to quá. Ầm ỹ quá.

* Trong giới phê bình, vừa đây có cuộc trao đổi qua lại.

“Văn học không phải là phản ánh hiện thực mà là nghiền ngẫm hiện thực”. Ý nhấn mạnh vai trò chủ thể của người sáng tạo. Có ý kiến điều chỉnh lại: “Văn học không chỉ là phản ánh hiện thực mà còn là nghiền ngẫm hiện thực. Và có những cách nghiền ngẫm khác nhau”. Ý muốn đặt ngang hàng yêu cầu mô tả hiện thực khách quan và cách giải thích chủ quan của người viết. Theo ý riêng tôi có lẽ ý kiến này đầy đủ, trọn vẹn hơn. Ý thức con người bắt nguồn từ các giác quan, từ những điều mắt thấy tai nghe, trước khi nhuần nhuyễn tổng hợp để biến thành ý tưởng, thành hành động. Như vậy nhằm tránh những thứ lý luận trừu tượng, những trò tư biện vô bổ hoặc lầm lạc dối trá.

* “Tiểu thuyết đã chết”. Ở phương Tây có những người kêu lên như vậy, mặc dầu ngày ngày vẫn xuất hiện trăm cuốn sách thuộc thể loại này. Thế rồi một số tác giả viết tiểu thuyết với phong cách và nội dung hiện đại như Milan Kundera, Carlos Fuentès, Ortega Y Gaset… song song với việc sáng tác, đã viết những cuốn chuyên luận để bàn về vấn đề này.

Vừa đây tôi có dịch (để làm tư liệu cho Ban sáng tác Hội nhà văn) một đoạn trong cuốn tiểu luận về tiểu thuyết hiện đại của Carlos Fuentès, nhà văn nổi tiếng Mêhicô. Ông nói: “Thế giới bị chi phối bởi hai luồng tác động”: 1 là sự bùng nổ về thông tin; 2 là sự nổ tung bên trong của ý nghĩa (implosion du sens). Thật vậy, chưa bao giờ có nhiều đến thế những thông điệp được lan truyền, nối tiếp nhau dồn dập, và nghịch lý thay cũng chưa bao giờ thế giới dường như khó hiểu đến thế với hệ diễn giải thông thường. Do đó, tác dụng không thể thay thế được của tiểu thuyết là ở chỗ: Không những nó đưa ta thâm nhập vào cái không thể diễn tả bằng cách khác, mà vì nó là cách duy nhất thăm dò một chân lý phức tạp, nhập nhằng, nước đôi, chẳng thể diễn giải bằng một tư duy đơn chiều nào”.

* Như vậy, công việc sáng tác, sáng tạo đòi hỏi một tầm tri thức và văn hóa cao, một trình độ tư duy, sáng suốt để biện biệt đúng sai, và dũng cảm tỏ bày quan điểm, một trí tưởng tượng phong phú, vượt lên thực tiễn đi đôi với sự trau dồi năng lực làm chủ ngôn từ và nghề nghiệp.

Nhiệm vụ khó khăn. Nhưng suy cho cùng, điểm xuất phát vẫn là hiện thực cuộc sống, cái hiện thực vô cùng đa dạng, phức tạp, lại luôn luôn vận động với những ý nghĩa khôn cùng, buộc lý trí và lương tâm phải gắng tìm vào cái cốt lõi, cái nguyên nhân, cái “nhân” đầu tiên - tóm lại một hiện thực đời sống vốn xưa nay có bao giờ giản đơn thô thiển.

8. 1998

(Nguồn tạp chí Tác phẩm mới)

 

Quả trứng - Con gà

Vũ Quần Phương

Nhà thơ Vũ Quần Phương
Trong buổi khai mạc Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ V, tháng 8/1998, ba nhà văn nhà thơ cao niên Tô Hoài, Huy Cận và Nguyễn Quang Sáng, trong bài phát biểu đều rất ngắn của mình, đã có những chiêm nghiệm thú vị về nghề văn, có ích đến những người viết trẻ và cả những người không còn trẻ.

Tô Hoài, vẫn cái hóm hỉnh khoan thai đã có từ hơn nửa thế kỷ trước trong Dế mèn phiêu lưu ký, ông sinh năm 1919 đến nay đã 80 tuổi, nói chuyện với các bạn viết trẻ thấy xa xăm quá. Ông khuyên về sự học. Ông vốn là người tự học. Cái uyên bác của ông hôm nay là do ông tích lũy một đời. Ông đọc sử, đọc triết, đọc văn học dân gian để hiểu người và cũng để hiểu mình. Và cao hơn cả, Tô Hoài khuyên các bạn trẻ phải học ngôn ngữ. Văn tạo nên từ ngôn ngữ. Ngôn ngữ là nguyên liệu thứ nhất và chủ yếu của văn chương. Học ngôn ngữ là học cả đời tinh tế lắm, sinh động lắm. Cái miệng, cái mồm không cùng nghĩa đâu. Ra phố thấy người ta nói: Vô tư, vô tư đi! Thế là thế nào. Nghĩa nó đã khác đi thế nào. Ngẫm nghĩ rồi ghi vào bộ nhớ, để dùng dần. Quả là Tô Hoài luôn luôn có một kho ngôn ngữ phong phú. Đôi khi chỉ vài chữ, như chữ vô tư đi quả đủ sức dựng lên một tính cách, một thời cuộc, một lối sống. Ở tuổi 80, Tô Hoài viết vẫn đều, đọc ông ngỡ như nghe ông rì rầm kể chuyện đời thường. Những việc bình dị như bao giờ cũng có khám phá độc đáo, nhận xét tính cách nhân vật rất tài. Ở ông, học và viết đều không ngừng nghỉ. Đọc nhiều và nhớ, ông không có thói quen giữ sách trong nhà, mà giữ trong đầu. Ông viết về tất cả những gì ông đã trải. Nói một cách khác: Những gì ông đã trải đều biến được thành văn. Làm được điều ấy, phải chăng do ông đã biết cách nghe, cách học cuộc đời.

Nhà thơ Huy Cận ở tuổi Tô Hoài, cũng nói về sự cần học và ông nhấn mạnh đến tính độc đáo của từng người. Xuân Diệu và ông cũng làm thơ và chơi với nhau từ thuở thanh niên, sống với nhau cả đời người như ruột thịt nhưng thơ không hề giống nhau, người nào có giọng ấy. Nếu giống nhau thì trong hai phải thừa một. Huy Cận đã nói tới một đòi hỏi hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật. Việc dễ hiểu thế nhưng trong thực tế đời sống đây lại là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Người viết cần bản lĩnh, người đọc cần bao dung thì mới phát minh nhiều độc đáo.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng khoe rằng lúc bé thích học toán cho nên bây giờ ông xin làm một thống kê. Ông thống kê tác phẩm của các nhà văn lớp trước ở tuổi 35 (tuổi được coi là trẻ ở hội nghị này): Nguyễn Tuân sinh 1910, ở tuổi 35 ông đã có Vang bóng một thời, Chùa Đàn, Chiếc lư đồng mắt cua… Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ dưới 20 tuổi, Tô Hoài 21 tuổi in Dế mèn phiêu lưu ký, Chế Lan Viên 17 tuổi đã xuất bản Điêu tàn, Xuân Diệu, Huy Cận nổi tiếng từ các tập thơ đầu tay ở tuổi 20. Còn về mình, nhà văn Nguyễn Quang Sáng cho biết bây giờ ông ăn chậm, đi chậm, nói chậm nên tất nhiên phải viết chậm. Ông tự đặt cho mình mỗi năm viết một truyện ngắn. Một truyện vừa ý mình. Nếu ý mình trùng với ý bạn đọc là truyện mình hay. Ông Nguyễn Quang Sáng có lý khi đặt tiêu chí quan trọng nữa là ý mình trùng với ý bạn đọc là tác phẩm hay. Như thế vừa không chạy theo chiều chuộng thị hiếu thấp lại vừa là người thể hiện được yêu cầu, nguyện vọng của xã hội. Nhà thơ vốn cực đoan trong cái tôi cá thể, trong bút pháp kỳ khu rất nên tham khảo ý kiến này. Mối quan hệ biện chứng giữa người viết - người đọc cũng giống mối quan hệ quả trứng và con gà. Trứng tạo nên gà và gà đẻ ra trứng. Người viết không chạm được đến vui buồn của người đọc thì sách ế. Người viết chiều nịnh người đọc thì sách xoàng. Người đọc bao giờ cũng đủ tầm để đón các tác phẩm có thẩm mỹ cao. “Vô tư” đi!.

8/1998 (Nguồn báo Văn hóa)

Phạm Đình Ân sưu tầm và giới thiệu

Nguồn Văn nghệ số 25+26/2022


Có thể bạn quan tâm