June 26, 2024, 4:30 am

Nắng nghiêng nối trọn hai miền thời gian

 

Khi đọc đến trang cuối cùng của tập truyện Nơi đỉnh rừng nghiêng nắng, đó đã là hơn hai giờ sáng của một ngày cuối tuần. Tôi chẳng thể nhắm mắt ngủ bởi ong óc trong đầu mình là những cuộc chiến, những thân phận và hơn hết là kí ức dắt tôi về những ngày đi trại sáng tác của Tạp chí Văn nghệ quân đội ở Cần Thơ vào tháng 6 năm 2022.

Chúng tôi có 15 ngày sống cùng nhau trong trạm T80, cùng một dãy hành lang, nên vào ra là gặp mặt nhau. Tôi nhớ lần đầu anh Thư gặp tôi là ở hành lang của hôm khai mạc trại, văn chương kéo gần chúng tôi lại. Người này đã hơn người kia gấp đôi tuổi đời; người này đã đi qua chiến chinh với những vết thương hiện hữu nơi cơ thể, người kia chỉ biết chiến tranh qua những bài học lịch sử, qua những tác phẩm văn chương; anh người Bắc, tôi người Nam, vẫn cứ say sưa với nhau mặc chiều võ vàng phía tây ang ác tiếng chim. Cứ vậy mà tôi cùng anh giữ liên lạc đến tận nay, vẫn mong chờ ngày gặp lại nhau, vẫn đọc các tác phẩm của nhau và nhắn tin nhau thường xuyên.

Tôi vẫn ấn tượng anh Thư bởi câu chuyện 5 người lính dắt nhau đi với 6 cái chân, 8 cánh tay và 5 cái đầu đều chẳng bình thường bởi còn sót lại tàn tích cuộc chiến trong đấy. Có người là mảnh đạn găm vào. Có người là sự chấn thương của não. Tất cả câu chuyện gói gọn vào bài thơ anh đọc đêm giao lưu. Một đêm gió Cửu Long thổi cay xè mắt của gần 30 người ngồi bên nhau. Anh kể, anh đọc hay chính anh sống lại thời hào hùng bi tráng đấy. Tôi chẳng biết được anh là ai trong khắc giây ấy. Một nhân chứng? Một nhà thơ? Hay một người kể chuyện? Nhưng, có một điều tôi tin, anh là của cuộc chiến ấy, chữ của anh cũng là chữ từ cuộc chiến, và hồn anh vẫn nương náu vào cuộc chiến để sống những quãng thời hòa bình này.

Tập truyện ngắn này như tấc lòng anh gửi đến đồng đội mình, tôi nghĩ thế khi đi qua gần 170 trang sách với 12 truyện ngắn. Tất cả đều là thân phận người lính trong cuộc chiến và ngày trở về đầy vơi những tâm tình. Tâm vẫn vọng về kí ức bom đạn, máu xương và chiến trường. Tình vẫn thôi thúc sự tìm kiếm của người trở về, của nghĩa cử đồng đội với nhau, và khát khao hạnh phúc. Chiến tranh đi qua nhưng nỗi đau vẫn còn lại. Mãi mãi. Vết thương thịt da có thể lành theo năm tháng. Nhưng, vết thương lòng đôi khi tê buốt cả quãng đời. Nhất là đối với những cựu chiến binh. Những người đã treo mang sống mình lơ lửng vì tâm nguyện non sông nối liền một cõi. Giữa lằn ranh sinh tử đó sự trở về hay ra đi vĩnh viễn luôn mang một tâm thế chấp nhận. Hai chữ hy sinh nhẹ tựa gió nhưng gió vẫn cứ thổi triền miên trên những bước đường của người trở về. Vũ Ngọc Thư gói ghém những se thắt lòng dạ mình vào tập truyện ngắn này với những nhân vật, những câu chuyện từ nguyên mẫu đời thực. Điều này khiến độc giả cứ hồi hộp lật từng trang sách, nín thở đi vào cuộc chiến, và đau đáu những cuộc chia ly, vỡ òa những niềm sum vầy. Có lẽ chí ít với một người chưa đi qua cuộc chiến như thế hệ 8x chúng tôi, thì đây là một tập truyện sống động và thực đến từng chi tiết. Thực đến nhói buốt lòng.

Truyện ngắn lấy làm tựa cho cả tập Nơi đỉnh rừng nghiêng nắng có thể là một truyện ngắn tiêu biểu cho bút pháp của Vũ Ngọc Thư. Truyện đã lột tả được cái gian khổ ác liệt của người lính giao liên Trường Sơn. Kể như không kể, truyện thực như đời, và thông điệp lồng vào câu chuyện như một sự chia sẻ chứ không hề gượng ép hoặc “nắn gân lên cốt”. Vũ Ngọc Thư đi từ thơ sang truyện, tưởng sẽ chuốt những câu văn bay bổng hoặc nhồi nhét chữ vào tác phẩm để thể hiện sự lồng lộng nghĩa từ. Nhưng, cái hay và khéo nhất chính là sự mộc mạc và chân thành trong cách viết của anh. Không đan cài lắt léo, không trưng trổ kĩ thuật, cũng không dựng lên một kết cấu phức tạp, truyện ngắn của Vũ Ngọc Thư là một lối viết tả thực. Trung thực với câu chuyện. Trung thực với cảm xúc. Người đọc cứ vậy mà rưng rức đi theo câu chuyện. Hệt như anh châm ấm trà, ngồi tỉ tê chuyện đời mình cho độc giả. Tôi đọc và nghĩ đến những buổi đêm chúng tôi ngồi bên ấm trà của khoảng sân trạm T80 và anh dẫn chúng tôi đi vào những trận đánh.

Nơi đỉnh rừng nghiêng nắng dắt tôi đi từ T13 ra T12, nghe tiếng F105 gầm rú giữa bạt ngàn nắng xanh trên dãy Trường Sơn. “T12 là vậy đó anh. Sáng đi mà không biết mình có còn về lại hay không.” Lời cô giao liên nhẹ tênh giữa “quầng lửa bừng sáng, tiếng nổ như tiếng sét chát chúa, đất đá bay lấp xuống người”. Chiến tranh ác liệt thổi tung bay những thân phận. Cùng một dòng máu, cùng một tiếng nói nhưng người bị thổi về bên này, kẻ bị dạt về bên kia. Bên nào thì cũng vậy, như đôi bàn tay lật trái hay ngửa phải cũng là thịt. Cô giao liên Lụa, anh chiến sĩ Thành, người nữ chiến sĩ Loan hy sinh không một mảnh thịt vẹn nguyên, cô Mấm còn sống sót bởi tình người trỗi dậy, hay chàng chiến sĩ phía bên kia đã dùng cả băng đạn để bắn người bạn chiến đấu khi giở trò thú tính với cô giao liên…, nhân vật và tình tiết ăm ắp những rung cảm. Góc nhìn của người cựu binh khi đã ngót nghét 80 tuổi đời đầy sự trắc ẩn và nhân văn. Truyện có tình tiết lãng mạn của người lính trong ác liệt của chiến tranh, có tính nhân văn khi hai người của hai phía đã hiểu được hành động của nhau và họ đã hàn gắn lại nỗi đau chiến tranh bằng hạnh phúc của mình. Giản đơn của cuộc đời là sự thấu hiểu. Chính sự thấu hiểu này làm nên một thông điệp sống tích cực trong tập truyện ngắn này.

Vũ Ngọc Thư nhập ngũ tháng 12/1966, đi B tháng 7/1967 thuộc Tiểu đoàn 234. Trước khi vào miền Đông Nam Bộ, anh được huấn luyện tại Sư đoàn 338, xã Thành Thọ, huyện Thạch Thành (vùng Tây Bắc Thanh Hóa). Cũng chính từ lúc này, những xúc cảm văn chương mới bắt đầu trỗi dậy mãnh liệt, từ đó anh trên dặm dài hành quân, những câu thơ mang hình hài người lính ra đời. Đêm 13-9-1968, địch đưa trực thăng đổ quân đánh chiếm kho hàng H9 của ta, cách chỗ Đại đội 3 đóng quân chừng 3km. 8 giờ ngày 14-9, ta tổ chức chiếm lại kho. Vũ Ngọc Thư phụ trách 40 chiến sĩ đảm nhiệm mũi vu hồi, phối hợp với các mũi khác tiến công địch. Giữa lúc bốn bề đạn nổ chát chúa, sau khi bị một viên đạn của địch xuyên qua bắp trên tay trái, anh bị tiếp một viên nữa đi xiên đỉnh đầu, rạch một đường ngang hộp sọ. Vết nứt ấy chỉ cần sâu thêm một mi-li-mét thôi cũng đủ làm cho anh trở thành “người thiên cổ” ngay tức khắc! Anh ôm đầu máu trong tình trạng choáng váng, cảm giác lộn xộn lơ mơ… rồi không biết gì nữa. Mãi khi tỉnh lại anh mới biết người chiến sĩ cùng tiểu đội, tên Diệu, quê ở xã Phượng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, cùng tỉnh Hải Dương với anh, đã cõng đưa anh về bệnh viện như thế nào… Năm 1971, do thương tật mất 61% sức khỏe, Vũ Ngọc Thư thuộc diện được ra Bắc an dưỡng để xuất ngũ. Nhưng anh tình nguyện ở lại miền Đông Nam Bộ, trở lại tuyến sau công tác cho đến ngày đất nước ngưng tiếng súng. Nhưng, cuộc đời run rủi người lính ấy gieo neo cuộc mưu sinh mãi cho đến khi đọc được rất nhiều tác phẩm trên Văn nghệ quân đội, Vũ Ngọc Thư mới bắt đầu trải chuyện mình, chuyện đời, chuyện lính trên trang viết. Có thể cuộc hạnh ngộ văn chương muộn mằn nhưng mở ra một cánh cửa để anh sống vui những ngày tuổi đời xế tà đường mây.

Vậy nên, 12 truyện ngắn là 12 câu chuyện hầu hết là đồng đội, là những con người mà anh nặng nợ để dặn lòng mình “phải viết”. Họ là những nguyên mẫu có thật trong cuộc chiến. Như truyện Vợ thương binh, đó là truyện anh muốn viết từ lâu rồi mà không viết được, bởi nếu viết là khơi lại nỗi đau thể xác, nỗi đau tinh thần của người đồng đội mình, mà người thương binh ấy, với vết thương cụt hai tay và một chân thì nỗi đau thương tật cũng đã bắt họ phải dồn hết tâm lực mới vượt qua được. Anh sợ chính mình không khéo lột tả nỗi đau thể xác lẫn tinh thần, thì vô tình lại chạm vào cái vết thương vẫn còn đang nhức nhối của đồng đội mình. Mãi đến khi nguyên mẫu bị bệnh nan y ra đi, anh mới viết được truyện Vợ thương binh. Câu chuyện được Vũ Ngọc Thư kể suông theo thời gian, cứ vậy từ từ dẫn dắt người đọc đi vào một cuộc tình hậu chiến cao đẹp giữa chàng thương binh 95% thương tật và cô gái tên Giáng giàu tình yêu thương và đầy nghĩa tào khang. Câu chuyện tên giản đơn nhưng chính hành trình yêu thương và chinh phục tự tin của người thương binh, lẫn đoạn đời vật lộn với sự khó khăn từ bàn tay trắng đến khi đã đủ đầy hạnh phúc khiến người đọc gai sững cả người. Nhất là những đoạn miêu tả tình cảm sâu nặng lẫn khoảnh khắc mặn nồng của hai nhân vật luôn khiến tôi cay xè mắt mình.

Còn đó những nguyên mẫu như nhân vật Nga trong Chuyện ngày ấy ở rừng, Tuấn trong truyện Ngôi nhà có những linh hồn, Hân trong truyện Lửa đỏ là những nhân vật tin chắc khiến độc giả ấn tượng sâu thẳm khi đọc tập truyện ngắn này. Nhưng có lẽ với chính tôi, tôi thích Sơn của Người liệm xác thuê. Sơn đã giả chữ kí mẹ để đi chiến trường; Sơn của ngày về chuẩn bị nằm xuống cho mẹ đánh roi, nhưng mẹ chẳng còn, có chăng chỉ là ánh cười qua lửa từ chiếc khăn trắng; Sơn từ hớt tóc chuyển qua liệm xác thuê; Sơn bình tĩnh và nhẫn nại đối diện thị phi; Sơn chủ động tìm lại tình yêu và bỏ mặc những đồn thổi của cuộc đời để sống một cuộc sống hạnh phúc chỉ cần mình biết. Tôi thích người lính như thế, bản lĩnh và vẹn tròn ngày về. Phải chăng chính những đau thương cuộc chiến, thân phận kiệt cùng của nhân vật đã khiến người trẻ như tôi luôn thắp lên một ánh sáng xanh lành cho những người trở về.

Ngang qua hình ảnh bom đạn, ngấm sau bức chân dung người lính và hơn hết là thấu cảm về một cuộc chiến, tôi tin Vũ Ngọc Thư đã vẽ nên một bức tranh đẹp về đề tài người chiến sĩ cách mạng mà ở đó mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật khoác lên mình một sứ mệnh tỏa nắng cho cuộc đời này. Một thứ nắng soi chiếu thời gian, kết nối hai miền quá khứ và hiện tại. Một thứ nắng hong ấm những nỗi đau và chữa lành những vết sẹo. Một thứ nắng không thẳng đứng chói lọi, nhưng đủ vừa vặn độ nghiêng để dẫn dắt độc giả lên tận cùng của con dốc để chạm đỉnh cảm xúc.  

Tống Phước Bảo

Nguồn Văn nghệ số 22/2024


Có thể bạn quan tâm