April 17, 2024, 5:42 am

Mục đích sáng tác của nhà văn là đều muốn làm cho cuộc đời đẹp hơn

Buổi trò chuyện diễn ra hồi 10h ngày 4/3/2019, tại quán Coffee Flower số 3 Ngõ 100 Võ Chí Công, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Tại buổi phỏng vấn có sự hiện diện của Phó Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Dân, chuyên gia phương pháp luận nghiên cứu văn học.

- Thưa nhà văn Nguyễn Bắc Sơn, được biết ông là cây bút tiểu thuyết đắc lực trên văn đàn, tôi đã đọc rất nhiều tiểu thuyết của ông, trong đó có Luật đời và cha con, Lửa đắng, và Vỡ vụn. Qua các tác phẩm của ông tôi rất có ấn tượng trước tầng lớp nhân vật trí thức với sự tha hóa của họ trượt dài trong cuộc sống. Tác phẩm của nhà văn Giả Bình Ao cũng có viết về sự tha hóa, cô đơn của người trí thức, vậy tôi xin hỏi ông tiếp xúc với tác phẩm của Giả Bình Ao trong điều kiện, thời gian và hoàn cảnh nào? Qua kênh nào?

* Ngày xưa tôi làm trưởng phòng quản lí báo chí xuất bản của Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hà Nội. Trước đó, khi làm giáo viên dạy văn tôi cũng đọc nhiều. Khi tác phẩm Giả Bình Ao mới xuất hiện ở Việt Nam thì tôi đã đọc luôn. Cuốn Phế Đô từ năm 1999 tôi đã mua về đọc đầu tiên. Sau đó đến tác phẩm Quỷ thành, Hoài niệm sói tôi đều mua đọc. Đọc Phế đô tôi có cảm nhận là, sở dĩ Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng nhiều từ Trung Quốc là bởi vì về xu hướng chính trị thì Trung Quốc và Việt Nam đại thể có sự giống nhau, xu hướng chính trị đều theo kinh tế thị trường, nhưng cụ thể thì Trung Quốc phải đổi mới sớm hơn Việt Nam. Còn về văn học thì văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của văn học Trung Quốc, thậm chí người Việt Nam thuộc lịch sử văn học Trung Quốc còn hơn cả lịch sử văn học nước mình. Văn học cổ điển, cận đại lẫn đương đại Trung Quốc (tôi không dùng chữ hiện đại) thì Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều. Về văn học đương đại, Giả Bình Ao có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam nhiều nhất sau Mạc Ngôn, bởi vì người ta dịch và giới thiệu Giả Bình Ao trước Mạc Ngôn, trên cả Thiết Ngưng, Cao Hành Kiện... Giả Bình Ao được giới thiệu sớm cho nên các nhà văn Việt Nam có chịu ảnh hưởng, trong đó có tôi. Tức là mình tất nhiên không phải là học “cái” mà là học “cách”, chúng ta phải phân biệt cặp phạm trù này, cái quan trọng là “cách” chứ không phải “cái”. Có hai điều mà Việt Nam chưa làm được như Trung Quốc, đó là: Thứ nhất là tự do phát triển với tư tưởng “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Cái này là để cho tự do phát triển thoải mái (tất nhiên là vẫn có sự lãnh đạo của Đảng). Về cải cách ruông đất, về Cách mạng văn hóa, các nhà văn Trung Quốc nói một cách thoải mái. Mà đây chính là động lực làm cho văn học phát triển, không bị gò bó... Tôi muốn tập trung vào tác phẩm Phế đô. Cái xu hướng của tác giả khi viết Phế đô có thể nói theo cách ngày xưa là hiện thực xã hội chủ nghĩa hay còn gọi là hiện thực thiên thực. Ông Giả Bình Ao viết về nhân vật trung tâm là nhà văn Trang Chi Điệp, đấy là hình ảnh sinh động chân thực về tầng lớp trí thức Trung Quốc trong sự chuyển đổi của cơ chế thị trường. Nói như các nhà lãnh đạo Việt Nam nói thì đó là sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thế thì sự tha hóa của ông ấy nó dẫn đến kết cục vô cùng thảm hại là thân bại danh liệt, đến nỗi đồ đệ trước gọi ông là Nhà văn, thậm chí Giáo sư... nhưng rồi đến cuối cùng là gọi tên không thôi, không còn gọi là Nhà văn hay Giáo sư nữa. Điều này chứng tỏ một kết cục thảm hại, không còn chỗ đứng trong xã hội, cũng không còn chỗ đứng trong bạn bè; đồ đệ, xã hội hay người thân cũng không còn bởi vì ông ấy là người theo cách gọi của Việt Nam là “máu gái”, “háu gái”, “nhóm máu dê”, với cô A Xán, người giúp việc,... Đó là sự tha hóa về nhân cách, nó thể hiện nhân phẩm và nhân cách xuống dốc không phanh, và cuối cùng là mất hết. Cho nên cách đặt tên sách của tác giả muốn nói “Phế đô” là “sụp đổ”, trước là Ủy viên thành phố hay gì đi nữa thì sau cùng bị tha hóa thảm hại đã không còn chỗ đứng. Cho nên nói nguyên nhân nó là gì? Bảo tại kinh tế thị trường chắc không phải, hay tại rèn luyện đạo đức, tại bản ngã bản lĩnh không có? Hay tại sự tha hóa đi xuống... Con người luôn có hai chân đi xe, phải có chân ga chân phanh, con người mình không có sự cân đối giữa chính và phụ, giữa thiện và ác thì kết cục bi thảm là tất yếu thôi. Cuối cùng vợ bỏ đi, sống vất vưởng... Đó còn gọi là thân tàn ma dại. Đó là kết cục tất yếu của con người không giữ được mình.

- Hình tượng trí thức mà nhà văn phản ánh so với hình tượng trí thức trong sáng tác Giả Bình Ao thế nào?

* Tôi cũng viết về người trí thức, nhưng không phải trí thức nhà văn, không phải văn nhân, mà tôi miêu tả sự tha hóa của các nhân vật cán bộ công chức nói chung nhưng có nắm quyền lực chứ không phải văn nhân. Thế thì các nhân vật của tôi là sự xuống cấp tha hóa của những người nắm quyền lực. Các nhân vật của tôi nằm trong cả hệ thống của một cơ chế điều hành, hệ điều hành của cơ chế ấy và con người trong hệ điều hành từ dưới lên trên từ trên xuống dưới.

- PGS.TS. Nguyễn Văn Dân: Khi anh đọc Giả Bình Ao anh có thấy được vấn đề gì gợi ý cho anh, cho việc sáng tác của anh không?

* Cái gợi ý rất cụ thể đó là sự tha hóa của con người ở Trung Quốc hay Việt Nam đều rất phổ biến. Ở Việt Nam phần lớn là nhiều. Và cái chuyện đó tha hồ nói, nói không bao giờ hết. Chỉ có điều mình nói với động cơ gì thôi. Nhân vật của tôi có bí thư thành ủy, trưởng ban tư tưởng văn hóa trung ương, tổng bí thư, trợ lý tổng bí thư... Tôi nói đến cái được và không được trong cái cơ chế điều hành đó. Cái quan trọng là tôi nói thế nào? Nói với động cơ gì? Tiểu thuyết Lửa đắng của tôi các nhà xuất bản từ Bắc vào Nam lúc đầu không cho ra... Điều này chúng ta tự hiểu...

- PGS.TS. Nguyễn Văn Dân: Tôi có một chút nhận xét, một chút so sánh như thế này, là về nhân vật trí thức của Giả Bình Ao, khi Giả Bình Ao viết thì ông viết về sự tha hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường, còn về nhân vật trí thức của Nguyễn Bắc Sơn trong một số tác phẩm như Gã tép riu, Vỡ vụn, thì ông nói về tha hóa là tha hóa của xã hội nhưng ông lại đứng từ cách nhìn của người trí thức, và sự tha hóa đó có cả các nhân vật quyền lực trong cơ chế từ trên xuống dưới từ dưới lên trên và cũng có cả những nhân vật trí thức nữa... Nhưng nhân vật chính của ông thì lại là một trí thức mang tính xây dựng, mang tính chính luận. Các tiểu thuyết của ông mang tính chính luận, trong khi đó tác phẩm của Giả Bình Ao mang tính hài hước, giễu cợt. Hai cái này khác nhau. Nhân vật của Nguyễn Bắc Sơn là nhân vật mang tính xây dựng, có ý thức xây dựng chống lại sự tha hóa. Trong bối cảnh tha hóa ấy, ông muốn đề cao vai trò của người trí thức. Như tôi đọc thì tôi thấy các nhân vật chính của ông có tinh thần xây dựng chống lại cái tha hóa trong xã hội.

Phó Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Dân

* Chính xác. Cái đối tượng mà tôi miêu tả, sự tha hóa mà tôi nói, là những trí thức đang nắm quyền trong bộ máy quyền lực ở mặt này hay mặt khác, có học hành tử tế. Ví dụ nhân vật vợ của Gã tép riu, cô ấy là Tiến sĩ, Phó Giáo sư, sau đó là lên đến Thứ trưởng. Nhân vật trí thức của tôi là trí  thức đích thực, thậm chí không phải là đảng viên, nhưng là trí thức đích thực, có hiểu biết, hiểu biết cả lí luận sách vở, cả thực tiễn cuộc sống, cho nên cập nhập được tất cả các thông tin mà các quan chức không biết.

Còn cái hài hước giễu cợt, giễu nhại thì khi đọc Giả Bình Ao tôi không thấy rõ lắm, nhưng trong tiểu thuyết Gã tép riu của tôi thì nhà văn Ma Văn Kháng là đầu đàn lúc bấy giờ về tiểu thuyết đã đánh giá: “Nhân vật chính trong Gã tép riu vừa có sự hiểu biết hàn lâm vừa có sự giễu cợt, giễu nhại...”. Ở Việt Nam, bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương cực giỏi là chúa sử dụng nói lái. Trong Gã tép riu của tôi thì thuật nói lái có hiệu ứng nghệ thuật đến bạn đọc là rất cao, sử dụng thuật nói lái là rất có hiệu ứng, người ta đọc rất thích... Trong Gã tép riu cái “u-mua” hài hước, giễu cợt rất đậm. Đó chính là một cuốn có tính tự truyện của nhân vật trưởng phòng có thật là tôi lúc bấy giờ với tư cách trường phòng báo chí xuất bản - đó là tôi mà nhiều người không ai biết thông tin này.

- Cách quan niệm người trí thức của nhà văn với Giả Bình Ao có gì giống và khác nhau không?

Nhà văn Giả Bình Ao (Trung Quốc)

* Về quan niệm thì một “người đàn ông đích thực”, “đàn bà đích thực”, “trí thức đích thực” thì ở đâu, màu da nào cũng như nhau, nhưng Giả Bình Ao chọn nhân vật phản diện làm trung tâm. Nhân vật trí thức của tôi nó không phải nhân vật hoàn hảo nhưng nó không tha hóa, có thể nói là chính diện; nhân vật này là nhân vật trí thức đứng trong hay bị vây quanh trong cái sự tha hóa ấy. Đối tượng miêu tả trong Phế đô là sự tha hoá của các nhân vật trí thức, còn đối tượng của tôi là là sự tha hóa của trí thức quyền lực. Đối tượng là khác nhau.

Quan niệm người trí thức đích thực thì giống nhau... Một chi tiết tôi thực sự ấn tượng là sự tha hóa thể hiện qua sự dan díu của nhân vật Trang Chi Điệp với A Xán, người phụ nữ khi yêu hết mình thì người ta làm hết mình: trang điểm, múa rối đủ thứ, rồi cô bôi mực như xăm vào mặt. Tôi rất phục chi tiết này...

Nhà văn luôn trọng chi tiết, chi tiết nhỏ làm nên tác phẩm lớn.

Việc mà Giả Bình Ao cứ nói “chỗ này cắt bao nhiêu từ” thì không thiếu gì cách người ta biết cái việc đấy xảy ra, nhưng việc đó xảy ra như thế nào thì bằng ngôn ngữ nghệ thuật vẫn đạt được rất cụ thể. Mà có lẽ chỉ trong Phế đô ông mới dùng cách đó.

- Các loại hình tượng trí thức trong tiểu thuyết của nhà văn được phản ánh như thế nào?

* Một trong hai nhân vật trung tâm của tôi trong bộ Gã tép riu là nữ cán bộ đoàn, rồi cô học tại chức, mà kiểu học hành tại chức đó ở Việt Nam thì là học tắt muôn kiểu rồi, là bằng mọi cách để ngoi lên vụ trưởng, phó chủ tịch ủy ban quận, vụ phó, vụ trưởng rồi đến thứ trưởng,.. Thì tất cả mọi cái ít nhiều đều dính dáng đến cái “vốn tự có” của phụ nữ. Sự tha hóa đó của người phụ nữ như là minh chứng cho triết lí “đằng sau sự thành đạt của người đàn ông có bóng dáng của một người phụ nữ, còn đằng sau sự thành đạt của một người phụ nữ có bóng dáng của nhiều người đàn ông”. Đàn ông thì thành đạt rồi mới hư hỏng, còn một số phụ nữ hư hỏng rồi mới thành đạt. Đó là nghịch lí thuận.

- Ngoài sự tha hóa trong Phế đô như là gợi ý cho nhà văn, sáng tác của Giả Bình Ao còn gợi ý gì nữa cho sáng tác của ông không?

* Như tôi đã nói, tôi có ấn tượng với chi tiết miêu tả cuộc làm tình giữa Trang Chi Điệp và nhân vật A Xán, chi tiết nhỏ làm nên tác phẩm lớn... Còn sự miêu tả chi tiết về cuộc làm tình giữa Trang Chi Điệp với bà vợ thì tính chân thực của các chi tiết là rất có giá trị làm bằng chứng tố cáo sâu sắc. Sau cuộc làm tình của Điệp với Liễu Nguyệt, A Xán... thì bà vợ phản ứng... Điều đó cũng cho thấy tác giả thật sự am hiểu cuộc sống thì mới miêu tả được như thế. Tôi học được một điều ở Giả Bình Ao, đó là một người muốn trở thành nhà văn đích thực thì phải sống hết mình, sống đến tận cùng, có phải đi vào cuộc sống mới miêu tả sống động được.

- Qua các nhân vật trí thức, nhà văn muốn gửi gắm điều gì tới độc giả?

* Ai cũng muốn làm cho xã hội tốt đẹp hơn, ai cũng muốn làm cho con người thánh thiện hơn, cho nên mục đích sống, mục đích sáng tác của nhà văn là đều muốn làm cho cuộc đời đẹp hơn, con người đẹp hơn, đáng yêu hơn. Đó chính là quan điểm sáng tác của tôi.

- Thưa nhà văn, ngoài tác phẩm Phế đô, ông còn quan tâm đến tác phẩm nào của Giả Bình Ao nữa không?

* Tôi năm nay đã gần 80 tuổi rồi. Nhà văn như lứa tuổi tôi nói như nhà văn Ma Văn Kháng là lứa tuổi “teo não” rồi, hay quên rồi. Sách tôi đã mua là tôi đã đọc, nhưng muốn tái hiện lại thì phải đọc lại. Đã đọc là phải rút ra được cái gì cho mình, nhưng phải đọc lại mới nói được... Tôi đọc Quỷ thành, Hoài niệm sói, nhưng muốn nói gì thì tôi phải đọc lại. Còn nếu nói ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đến Việt Nam thì nhiều lắm, ảnh hưởng lớn nhất là văn học cổ điển như các tác phẩm Thủy Hử, Tây du kí, Hồng lâu mộng, Tam quốc diễn nghĩa,... hay hơn nữa là Sử kí Tư Mã Thiên... Tôi có thể nói nhiều hơn nữa nhưng tôi sẽ đọc lại thì mới nói được tiếp...

- Cảm ơn Nhà văn đã cho bạn đọc buổi gặp gỡ đầy ý nghĩa này.

Nguyễn Thị Ngà Thực hiện

Nguồn Văn nghệ số 29/2022


Có thể bạn quan tâm