June 26, 2024, 5:02 am

CHÍNH HỮU - Người bộ hành không đơn độc

Nhà thơ Chính Hữu tên khai sinh là Trần Đình Đắc. Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1926 tại thành phố Vinh, Nghệ An; quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh. Dân tộc Kinh. Mất ngày 27 tháng 11 năm 2007. Tham gia Việt Minh từ đầu năm 1945 tại Hà Nội, là bộ đội thuộc Trung đoàn Thủ đô cuối năm 1946 cho đến năm 1983. Thời gian trong quân ngũ chủ yếu làm công tác chính trị: Chính trị viên đại đội, tiểu đoàn…, Phó cục trưởng Cục  Tuyên huấn Tổng cục Chính trị. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, 1957. Năm 1983 chuyển sang Hội Nhà văn Việt Nam với quân hàm Đại tá, được bầu vào cương vị Phó Tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000. Tác phẩm chính: Đầu súng trăng treo (1966, tái bản vào 1972, 1984…), Thơ Chính Hữu (1997), Tuyển tập Chính Hữu (1998).

Tranh chân dung nhà thơ Chính Hữu của Kevin Bowen

“Ai đã đọc thơ Chính Hữu, một vài bài trong một lúc, hay dăm bảy bài ở một vài lần khác nhau, đều thấy không có gì khó hiểu, khó suy luận lắm. Hơn thế, với một người sành thơ, đọc chừng nửa bài của ông, đã có thể đoán là ông sẽ tiếp tục viết thế nào và kết thúc thế nào...”  Một người bạn tôi bảo thế.

Tôi mang nhận xét này nói với vài người khác. Họ bảo tôi:

- Liệu đã chắc chưa?

- Đấy là cảm nhận - mà cảm nhận thì dễ vu vơ lắm đấy, thử tìm hiểu nữa xem.

- Có lý đấy, có cơ sở đấy... Một người khác bảo vậy.

Gặp nhà thơ nổi tiếng với hình ảnh - hình tượng Đầu súng trăng treoNgọn đèn đứng gác, chần chừ một lúc, tôi bụng bảo dạ: “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà, thôi, cứ liều hỏi xem sao”.

Khóe miệng nhà thơ hơi giật giật, ông nở một nụ cười nhẹ không thành tiếng mà gương mặt như ửng đỏ, rạng rỡ hơn, dễ giao hòa chứ không kho khó đăm đăm như lúc khác. Đưa cho tôi trang giấy chép một bài thơ, ông hỏi: “Cậu chắc chưa đọc bài này của mình, đọc thử xem...” Tôi đón trang thơ ông đưa, đó là bài Người bộ hành lặng lẽ, mở đầu bằng các câu: Đi bộ là hành vi đẹp nhất/ Của con người/ Tôi hướng đến tận cùng niềm vui/ Của cái lặng im trong sự cô độc...

Khi tôi đọc tiếp, mê mải, quên là đang đối diện với ông, chợt ngẩng lên, thấy mắt kính ông cũng đang lấp lóa, ông đang đọc hay viết gì đó. Tôi như phát hiện ra có một nhà thơ Chính Hữu hơi khác với những gì mình đã biết, ở mấy dòng này của ông:

Tim càng đau và tuổi càng già

Tôi càng muốn xa

Những sự rắc rối

Chỉ thích nhìn đời một cách đại khái

Để càng yêu hơn...

Tôi nói với ông: “Hình như Vũ Quần Phương đã viết: Yêu cho hết tấm lòng không phải dễ; dường như Bằng Việt đã kêu lên: Chưa bao giờ tôi hiểu hết cuộc đời/ Chỉ càng lớn tôi càng thương cảm nó...; và xa xưa mà gần gũi kia, Nguyễn Đình Chiểu đã tự nhận: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương...; thế mà ở đây, anh lại bảo nhìn đời một cách đại khái để càng yêu hơn là thế nào? Nhìn đại khái thật à? Chữ đại khái của anh thế mà khó hiểu rồi!...”

Nhà thơ ngồi yên nghe và nhìn tôi nói như nhìn một vật thể lạ.

Tôi ngỡ là Chính Hữu đã vào hồi tự nhìn lại tình hình chung và con đường văn chương của mình một cách ráo riết.

Đó là bài thơ ông viết vào năm 1990, khoảng gần một năm sau Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IV, một đại hội có nhiều tranh luận, để rồi từ khóa V ông không ở trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nữa. Bài thơ xưng tôi này song hành và hòa lẫn hai con người: con người quá khứ, là Rutxô vĩ đại, tác giả cuốn sách Những mơ mộng của người bộ hành cô độc và con người thứ hai, là chính tác giả. Đây là Chính Hữu tự họa chân dung mình, một phác họa cho thấy ông có phiên bản mới:

Tôi đi giữa lòng Hà Nội

Gặp vô vàn con người ai cũng dễ thương

Vì tôi chỉ đi, chỉ ngắm, chỉ nhìn,

không nói nhiều nên không phải cãi

Tâm hồn không bị khét lên vì mùi

etxăng hiện đại

Càng đi bộ càng khám phá ra nhiều điều

Nên càng đi càng yêu...

Tôi đọc to hơn một tí mấy câu thơ này để ông và tôi cùng nghe lại. Tôi hỏi: Càng đi bộ càng khám phá ra nhiều điều/ Nên càng đi càng yêu, đó là suy luận hay là tổng kết? Ông cười dễ dãi: “Tùy các cậu, thơ ấy mà!” Tôi nhớ lại chuyện có lần tôi đi xe máy vượt chiếc ôtô mà không biết là trong xe có ông ngồi, mấy hôm sau gặp nhau tình cờ ở phố Lý Nam Đế, ông bảo: “Cậu đi xe máy xiếc nhỉ”. Chữ “xiếc” ông dùng rất thanh niên. Tôi đùa với ông: “Anh quen ngồi ôtô mấy chục năm nay rồi, cái khoái cảm đi bộ để ngẫm nghĩ suy tư trong bài này là tự nhiên đấy chứ? Hay là anh nhập vào vai nhà tư tưởng Rutxô mà viết ra?” Ông trả lời thật gọn: “Trong mình và trong cậu, trong một người đọc, đều có một chút Rutxô trầm tư thì cũng là tự nhiên thôi!”

Ừ thì tự nhiên, thơ đọc được, thơ hay, bao giờ cũng có ý tứ được bộc lộ tự nhiên mà khéo léo. Nhưng tự nhiên, thì cũng phải có hoàn cảnh mới tự nhiên được. Thường khi, đến với Chính Hữu, là ta đến với một người có khả năng tổng kết ngắn gọn bằng hình ảnh có tính biểu trưng. Song ở bài Người bộ hành lặng lẽ này, bộc bạch và đối thoại hơn là mô tả tự nhiên để mà khái quát, tổng kết. Khi anh đối thoại, cũng là tự nhiên, anh đã chan hòa hơn, “bình dân” hơn. Tôi nói với Chính Hữu thế.

- Thế khi chưa đọc bài Người bộ hành… này thì các cậu thấy Chính Hữu không bình dân à?

- Hình như anh đã tự nguyện “vô sản hóa” trong tác phong và sinh hoạt, còn trong sáng tác thì cũng cố tìm câu chữ cho bình dân dễ hiểu, nhưng căn cốt của anh thì vẫn là…

Tôi định nói tiếp “vẫn là một trí thức tiểu tư sản”, nhưng thấy nhà thơ ngả người trên ghế tựa, hai tay gài vào nhau sau gáy, nửa như muốn nghe, nửa như muốn dừng đoạn đối thoại, thì tôi cũng ngừng.

Đột nhiên, Chính Hữu hỏi:

- Hình như Nguyên An cũng sinh ở thành phố Vinh phải không? Có một dạo chính dân Nghệ gốc Vinh bảo tôi là anh học trò tiểu tư sản đem cái chất ấy vào vệ quốc đoàn rồi làm thơ Đầu súng trăng treo đấy. Khen mà như đe nẹt nhắc nhở điều gì.

- Nhưng thơ anh lại được nhiều người đọc mà.

- Nhiều thật không? Thơ mà nhiều người đọc thì có thật là thơ hay? Người ta đọc thơ là khôn hay chưa khôn nhỉ?

Câu chuyện chuyển nhanh và bất ngờ quá. Tôi nói chả kịp nghĩ:

- Nhà thơ khôn ngoan thì người đọc cũng khôn ngoan thôi.

Chính Hữu chùng người lại, hơi cúi xuống bàn, lẩm bẩm:

- Thật thế à? Thế thơ mình thì được đọc vì lí do gì?

- Lúc đầu người ta đọc thơ, là do nghe theo lời đồn. Với thơ anh thì họ đọc lại, đọc nữa, là bởi người ta thấy có mình ở trong đó một ít.

Tôi chưa bao giờ dám nghĩ rằng nhà văn nhà thơ là người khôn hay dại. Cứ sau mỗi lần gặp Chính Hữu, tôi lại tự cho rằng cái ý chưa bao giờ dám nghĩ ấy của mình là phải, nên giữ. Thế mà hôm ấy tôi lại buột miệng. Thời gian sau Chính Hữu nói với tôi: “Rồi sẽ đến lúc cậu cũng thấy lặng lẽ mà đi thì mình đỡ dại miệng hơn”.

Nhà thơ Hoàng Trung Thông (1925-1993) đồng hương với nhà thơ Chính Hữu kể: “Hồi còn học ở Vinh với nhau - khoảng 1942, 1943, Trần Đình Đắc (tức Chính Hữu sau này) đã nổi tiếng chăm chỉ, học giỏi và nghịch ngầm. Trò nghịch ngầm mà Đắc ta hay dùng là đố chữ: chữ Pháp, chữ Việt, và tiếng Nghệ lẫn lộn cả âm cả nghĩa, nói xuôi đọc ngược, nói lái nói lửng... vui thì thật vui mà lắm khi tức cười đến cả tuần cả tháng sau. Rồi Trần Đình Đắc ra Hà Nội học tiếp, kịp khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ, chính quyền mới được thành lập, Đắc về Vinh, mấy ngày đầu cũng định thôi học, ở nhà tham gia công tác, nhưng sau nói với anh em thế nào cũng đánh nhau, kháng chiến cũng cần thêm người làm văn nghệ trong vệ quốc đoàn… Phải đến dăm bảy năm sau bọn tôi mới hiểu ra: Chính Hữu là người có tầm nhìn hơn rất nhiều bạn cùng trang lứa…

Rồi Nam Bộ kháng chiến, rồi Thủ đô kháng chiến, Chính Hữu sung vào Trung đoàn Thủ đô oai hùng. Thành phố Vinh tiêu thổ, tản cư... Thế là xa nhau, những tưởng như thơ đã nói Các anh đi biết bao giờ trở lại..., thì bỗng được nghe mấy anh mấy chị đi dân công hỏa tuyến về đọc bập bõm những Quê hương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá... với Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá/ Miệng cười buốt giá/ Chân không giày/ Thương nhau tay nắm lấy bàn tay..., Hoàng Trung Thông hỏi Minh Huệ, Minh Huệ hỏi ra Hồng Nguyên, rồi Thanh Minh ở Thanh Hóa nhắn vào, Lương An ở Quảng Trị viết thư ra..., ai cũng mừng về một giọng thơ mới lạ. “Giọng thơ của bọn kháng chiến chúng mình”: chân chất, tự nhiên trong câu chữ và nhịp điệu, mà xiết bao thân quý bạn bè”.

Tôi đã hỏi nhà thơ Trần Hữu Thung: “Khi viết Thăm lúa với những dòng tươi xinh Mặt trời càng lên tỏ/ Bông lúa chín thêm vàng/ Sương treo đầu ngọn cỏ/ Sương lại cùng long lanh... với cuộc chia tay của đôi vợ chồng trẻ - chồng ra trận, vợ ở nhà thi đua tăng gia sản xuất, anh đã “như thế nào?” “Chẳng thế nào cả”. Ông Thăm lúa thủng thẳng, rồi nói tiếp: “Đó là chuyện thật ở làng quê hồi đó thôi, khi tôi bẻ vần dựng cảnh, là tôi cũng có nghĩ đến nhịp điệu sao cho dìu dặt thanh thoát như vè mà phải hơn vè, nhưng mà cũng không muốn đăng đối mộc mạc theo kiểu Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá...”

Muốn “đo” phản ứng của Chính Hữu, tôi bảo với ông: “Thế mà bọn em đã có lần cãi nhau về hai bài Ngọn đèn đứng gácAnh vẫn hành quân đấy. Cãi thế nào? Thì lẫn lộn tác giả, anh thì bảo bài này viết trước bài kia viết sau...”. Nhà thơ cười. Tôi ít khi thấy Chính Hữu cười thoải mái thế. Ông rút khăn mùi xoa lau mắt, lau kính rồi bảo: “Nhầm thế thì chết người ta! Ông Thung tài hơn mình nhiều... Một anh bạn mạnh dạn: Ông Thăm lúa ấy bảo thơ anh toàn sỏi đá với mảnh vá...” Chính Hữu cười to hơn: “Thì thơ ai hồi đó mà chẳng muốn trật dép với Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng/ Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa?” Rồi ông hạ giọng như độc thoại: “Các cậu biết rồi đấy, đó là vẻ đẹp của thơ ca một thời. Thời ấy bọn mình rất muốn đưa những từ ngữ, những chuyện mà bây giờ các cậu gọi là dân dã vào thơ. Ai làm được nhiều và khéo, thì được coi là thành công, là đã tìm ra đường đi cho thơ mình, nhận đường mà....”

Năm 1999 tôi biên soạn và tuyển chọn tập sách Mảnh vườn văn dày ngót 1000 trang, nhà thơ Trần Hữu Thung nhắc: “Nguyên An tìm cách đưa vào sách những ai thì tùy, nhưng theo mình, là phải có Chính Hữu đấy...” Rồi ông còn dặn nhiều việc khác nữa. Tiếc rằng tập Mảnh vườn văn chỉ tập hợp những văn nhân từng dạy và học ở Trường Quốc học Vinh (từ đầu thế kỷ XX) và Trường cấp III Huỳnh Thúc Kháng ở Vinh những năm chống Mỹ. Năm sau, nhà thơ Chính Hữu được Nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Trần Hữu Thung bảo: “Chính Hữu viết chắc, khỏe, thơ như đài kỷ niệm chiến binh, viết ít mà để đời”. Chúng tôi mạnh dạn lên, bảo: “Còn thơ anh thì như khúc quân hành buổi cả nước ra trận...” Nhà thơ Thăm lúa vui vẻ: Ghép đôi mình với Chính Hữu à? Được thôi, nhưng sợ mình chưa xứng.

Đã có mấy ngày, đã có rất nhiều lần tôi bần thần với ý nghĩ: Trong làng văn nghệ Việt Nam ta có mấy cặp đôi thắm thiết nhau như Xuân Diệu và Huy Cận? Chính Hữu và Trần Hữu Thung, và như cả Bùi Hiển với Hoàng Trung Thông nữa… tất thảy, là có mấy cặp đây?

Trần Hữu Thung chân mộc vẹn nguyên mà thơ thới vang ngân từ ngày Thăm lúa, thấy Mặt trời càng lên tỏ/ Bông lúa chín thêm vàng/ Sương treo đầu ngọn cỏ/ Sương lại càng long lanh… Chính Hữu từ bé là học sinh đô thị, ra Hà Nội lại càng là dân phố thị, mà tự nguyện tự giác bươn lên nhập cuộc công nông binh để có thơ hào hoa và chắc khỏe lại cũng cao xa trong ý tưởng khái quát, hòa nhịp bước với cuộc trường chinh của dân tộc thế kia… Đất nước mình muốn yên ổn làm ăn nhưng xem ra cũng còn gian khổ, thơ như của Chính Hữu, chắc còn rất cần. Sẽ có những ai tiếp nối dòng thơ chiến sĩ như các ông?

Trong số mấy chục người được trao/ nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật mấy đợt vừa qua, quả thực, không ai viết ít và kiệm lời như Chính Hữu. Tôi nói với ông rằng mấy mươi năm qua ông dường như chả đi đâu ra ngoài Hà Nội, mà tại Hà Nội, ông cũng quẩn quanh ở mấy địa chỉ liên quan đến văn nghệ trong và ngoài quân đội như nhà số 4 Lý Nam Đế, nhà 65 Nguyễn Du, nhà số 9 Nguyễn Đình Chiểu...; ông có lẽ chỉ ngồi đọc, ngồi nghĩ những gỉ những gì, rồi chắt ra từ bao nhiêu nghìn vạn trang kia, từ bao nhiêu ngày ngày tháng tháng sáng sáng chiều chiều đêm đêm khuya khoắt kia lấy một ít ý và lời mà phô cùng bạn bè.

Nhà thơ đăm chiêu nghe, có lúc ông hơi ngả người ra sau, vừa làm mấy động tác thể dục với nhịp thở nhẹ nhàng, có lúc như chợt ngừng lại, muốn nói thêm cho rõ một ý gì. Có lần ông bảo: “Giá mà anh em văn nghệ mình có thì giờ mà đọc, có điều kiện mà đi nữa...” Ông chỉ nói thế, rồi dừng, như cho rằng đã đủ hiểu. Có phải cái điều ông tâm niệm trong bài Người bộ hành lặng lẽ lại đang trở về với ông, rằng không nói nhiều nên không phải cãi, rằng biết vừa vừa, đại khái thôi, thì mới yêu hơn được?

Viết ít, mà có đường nét ngay từ khi mới xuất hiện ở các bài Ngày về, Đồng chí..., và tạo ra một sự phát triển - ổn định trong phong cách, tạo ra một ít ảnh hưởng trên thi đàn, đó là Chính Hữu. Người viết lịch sử văn chương Việt Nam thế kỷ XX không thể quên ông bởi họ và công chúng nhớ rằng: Kế tiếp xứng đáng Trần Mai Ninh, ông và Minh Huệ với Trần Hữu Thung, và Hồng Nguyên, rồi cả Hoàng Trung Thông... đã bằng sáng tác của mình mà khơi nguồn cho một hướng viết mới, cái hướng sáng tác ngay từ đầu, đã thể hiện khá hài hòa tính dân tộc và tính hiện đại của nền thơ ca nước Việt Nam mới.

Đã có lúc tôi nghĩ: Nếu không có Chính Hữu và Quang Dũng, thì phần hào hoa của anh bộ đội Cụ Hồ trong thơ ca sẽ biết tìm thấy ở sáng tác của ai đây?

Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa

Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng

Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm

Rách tả tơi rồi, đôi hài vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa

(Ngày về, 1947)

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

(Đồng chí, 1948)

Quý hồ tinh bất quý hồ đa, vị trí của một thi nhân văn gia đích thực thường được bắt đầu từ việc tìm câu trả lời cho câu hỏi: Nếu không có thi nhân này, văn gia này thì sao nhỉ?

Phong cách của một nhà thơ, như ta biết, có khi được hình thành dần từ các giai đoạn sáng tác một cách tự nhiên, tự phát hơn là do chủ định, bởi cái tạng suy tư, cái hoàn cảnh sáng tạo của anh ta là vậy. Chính Hữu thì không thế, không hẳn thế, mà có lẽ là do ông tự định hướng, tự xác định từ đầu thì phải. Nhà thơ từng tâm sự: “Tôi thích những câu thơ hàm súc, cô đọng, nói rất ít nhưng gợi rất nhiều tưởng tượng lan xa. Thơ phải ngắn ở câu chữ nhưng phải dài ở sự ngân vang... Câu chữ càng ngắn thì sức ngân vang càng dài. Tất nhiên phải là câu chữ làm bằng tinh chất được cô đúc ở mức tối đa (thích là một việc, nhưng làm được lại là một việc khác). Tôi học tập các nhà thơ phương Đông khi họ nói: Phải kết hợp “xảo” - kỹ thuật tinh vi - với “phác” - mộc mạc. Tôi học tập Baudelaire khi ông khuyên “Mỗi nhà thơ phải là một nhà phê bình” (của chính mình). Và khi ông chủ trương một sự ”chậm rãi minh triết”, tôi không thấy có sự cần thiết phải làm nhiều, làm nhanh để làm ẩu. Tôi tự xác định mình chỉ nên là, và chỉ có thể là một người làm thơ nghiệp dư, tài tử, để có thể tự do.”

Ông viết thế, là bộc bạch, cũng là tự tổng kết về mình. Và ông nhấn mạnh: “Để tự do chỉ viết những điều nội tâm mình thôi thúc phải viết. Và tự do hủy bỏ những cái viết ra nhưng không vừa ý.”

Người ta đã bàn nhiều về tự do trong cuộc sống và trong sáng tác. Chính Hữu nói đến “tự do hủy bỏ những cái viết ra nhưng không vừa ý”, đó là một ý nghĩ rất đáng ghi nhận ở ông và cũng thể hiện tầm vóc của ông - một người tưởng như ít có chuyện để bàn thêm.

Tôi không rõ là những cuộc gặp gỡ, trò chuyện của mình với nhà thơ Chính Hữu như thế là nhiều hay ít, mà chỉ nhớ là thường gần như không hẹn trước, ông tự nhiên và vì thế, tôi cũng được tự nhiên nghe và nói. Tôi cũng nhớ là trong câu chuyện của chúng tôi thường thấp thoáng hình ảnh các nhà văn nhà thơ khác. Nhà thơ Chính Hữu rất thuộc bạn thơ cùng lứa và hay nhắc đến họ với sự thân mến, còn hình ảnh những anh bộ đội thời trận mạc thiếu thốn vô vàn mà Thương nhau tay nắm lấy bàn tay thì hiện lên luôn luôn, họ như là mạch nối, như là nguồn cảm hứng để câu chuyện của chúng tôi có hôm trở nên miên man. Miên man thế, cùng nhau, có mấy lần ông nói cái ý mà tôi đang muốn, là: “Thôi, ngừng một tí đi, để mình ghi lại đôi ý nói qua nghe lại nãy giờ kẻo lại quên mất.”

Chính Hữu từng được chào đón hân hoan. Nhưng từ lâu, tôi vẫn thấy là ông như không hào hứng lắm với sự chào đón mà ông nói là “hơi ồn ào thế nào đó”. Ông viết bài Người bộ hành lặng lẽ, không biết vào một lúc mà thành, hay là viết - sửa trong bao lâu, chỉ biết là bài này khác với dòng thơ chiến trận mà chính ông đã góp phần phát triển hơn nửa thế kỉ trước.

Bài thơ này cho ta một phiên bản khác về bức chân dung ông.

Và gần đây, cái tâm sự (và cách viết) của bài thơ Người bộ hành lặng lẽ này của Chính Hữu đang có nhiều người tự nhiên cũng sáng tác theo.

Chính Hữu lặng lẽ mà không đơn lẻ.

Nguyên An

Nguồn Văn nghệ số 17+18/2024


Có thể bạn quan tâm