Xuân khắc mộng dài


Tờ lịch cuối năm vừa gỡ xuống, gỡ cả những nặng trĩu của một năm dài. Cầm trên tay tờ giấy mỏng tang, tôi tiễn buồn vui lùi về một phía, chợt nhớ những người xa khuất của ngày qua, vùi bao kỷ niệm xuống dòng lưu bút mệt nhoài. Những ngày cuối năm là những ngày trống trải, không biết treo nỗi nhớ nơi nao cho đặng lòng. Chợt đứng giữa quá khứ và tương lai, của ngày qua còn lại gì, của ngày mai biết sẽ thế nào.

Chiều ra ngoại ô, thấy mai hoa núp bóng bên ngôi nhà cổ, nghe tiếng én gọi vào mênh mông. Xuân về rồi, trời Nam ơi, thôi không mong cơn gió Bắc lạnh giá, thôi gác lại bếp than hồng. Đôi mắt đói khát của người im lặng bừng sáng lên trước quà tặng rộng rãi của thiên nhiên. Bàn chân bước ra thềm rêu, hội vào vào niềm vui chung, thấy nụ hoa vừa hé cười, thấy gió trêu làn tóc rối. Một mình dấu ngày tàn trong bao thuốc nhỏ, ôm bóng đêm cùng tiếng đàn của người bạn cũ trên vỉa hè lêu nghêu hát một khúc nhạc xuân. Người người qua lại hối hả, cồng kềnh ý nghĩ, cồng kềnh lo toan. Tôi ngồi đây nơi xa lạ, nhớ về căn nhà xưa mỗi năm tết đến, xuân về.

 Nhà ươm bước chân ấu thời bé nhỏ đi kín mỗi tấc đất, nơi tôi bắt đầu ủ mộng cho những ngày xanh. Hơn hai mươi năm sống dưới mái nhà len chặt biết bao kỷ niệm ở mỗi góc nhà, mảng tường, mảnh sân con và khu vườn còn ủ vạn giấc ngủ say. Trên mảnh đất phía trước nhìn thấy núi xa mờ, phía sau ao chuôm cá lội, đồng lúa xanh rì. Sớm tối, tiếng chuông chùa hai thời vang vọng không trung, gieo muôn thanh tỉnh. Vây quanh một khoảng sân chung, nơi các gia đình trong xóm cùng nhau đi qua bao lần biến động, binh đao khói lửa rồi đến cái nghèo cái đói những năm tháng gian lao đầy ám ảnh. Căn nhà nhỏ xây theo kiểu nhà ba gian truyền thống của tổ tiên, đã bốn đời cư ngụ. Ngôi nhà ấy, ba mẹ tôi chắt góp làm từng giai đoạn dễ đến năm lần, bảy lần mới được hoàn chỉnh, được gọi đúng nghĩa là nhà. Một nhà ba gian nằm ngang gọi là nhà chính hoặc là nhà trên, dùng để làm nhà thờ, phòng khách, được trang trí dăm ba bức ảnh nhỏ trong khung kính. Nổi bật nhất là bức hậu án sau ban thờ, một bức bích họa núi sông non nước, đủ cả tùng cúc trúc mai, ngư tiều canh mục, bình bông, màn trướng trông rất thật do người em ông nội vẽ lúc tôi còn chưa ra đời. Một nhà ba gian khác nằm dọc, sát cạnh nhà chính gọi là nhà lều hoặc nhà dưới là nơi ngủ và bếp ăn, khu vệ sinh. Từ “mái nhà tranh tót, cỏ mọc mái hiên” đến nhà mái ngói đỏ tươi thấm màu thời mới là cả một chặng đường của nhiều thế hệ trong gia đình. Lúc tôi học mẫu giáo, ngôi nhà dưới vẫn còn lợp tranh một mái nghiêng và chiếc nôi của anh em tôi treo trên đòn tây bằng tre được bà nội và mẹ ru giấc ngủ thơ. Tôi bập bõm đọc “ngó lên nuộc lạc mái nhà, bao nhiêu nuộc lạc nhớ ông bà bấy nhiêu”. Mái tranh ấy được nhuộm màu vàng đậm pha đen huyền hoặc do khói bếp lâu ngày bám vào. Những ngày mưa, anh em tôi ngồi bên bậu cửa thi nhau ngửa mặt ra ngoài trời, hớp những giọt nước mưa rơi từ mái tranh xuống mằn mặn, thật thà. Những ngày mưa của mùa đông lâm thâm không ngớt, quê hương nhòa trong làn nước trắng xóa, chẳng còn thấy núi xa, phía đồng nước đã ngập bờ và đường quê hiu hắt bóng người đi về trên con đường đất đỏ. Cái lạnh nhờ nhợ đến, xộc vào nhà như người khách lạ, mang theo thứ không khí ủ ê, băng giá. Ngày ấy ngôi nhà như chật lại với chăn mền được lấy từ trong tủ ra chống lạnh, những bao lúa được khuân ra, kê cao hơn sợ mưa to, lũ về. Và khói bếp được đốt từ rơm rạ, củi mục xông ướt mắt cay. Những bữa cơm mùa giá lạnh ấm êm dù mắm dù muối, thiếu thốn đủ bề. Ngày tết mời nhau miếng mứt gừng cay ấm lòng hơn yến tiệc.

Mùa xuân ra đồng, cài những mát lành lên gió mời. Cánh đồng vào vụ đông xuân, người người ra đồng. Màu xanh vừa chớm làm no đôi mắt mỏi. Lòng rừng thôi cô độc, vang vang những tiếng vui. Thuở đó, căn nhà tôi rộn ràng nhất là vào mùa vụ. Đầu tiên, là việc nhổ mạ cấy lúa. Từ sớm, khi sương còn đọng trên cành mai già, cả nhà đã ra ruộng “trừa lại” để nhổ mạ, bó lại từng bó nhỏ rồi chất lên xe tải chở về nhà vào lúc hoàng hôn, khi mặt trời chiếu từng tia rẻ quạt lên bầu trời. Những bó mạ xanh xanh buộc bằng nuộc lạc được anh em tôi chuyền qua tay nhau. Mùi mạ non thơm thơm quyện lẫn mùi đất ẩm lưu lại một đêm trong nhà rồi mới đem ra đồng cấy. Mồ hôi túa ra trên người ba tôi và những tay cấy, hòa vào giọt sương của mùa xuân đượm mùi bùn. Lũ chúng tôi đứng trên bờ, kéo nhau vào những lùm bụi, chơi trò trốn tìm rồi vùi mình dưới cỏ non thơm ngát. Tuổi thần tiên trôi êm đềm, mơ mộng, là cành vàng tôi bấu víu khi rơi lạc giữa dòng đời, là dòng suối trong tưới mát tâm hồn mỗi khi khô hạn.

Đêm Ba mươi, ngồi thức canh nồi bánh chưng, bánh tét ấm mùi quê. Nhìn ra vườn, bông thủy tiên ngậm sương trầm mặc, thỏ thẻ nói những lời đầy ánh bạc lên cỏ cây. Nhớ tiếng sáo ba thổi đêm khuya ru anh em tôi giấc ngủ giữa bếp hồng, một khúc Lòng mẹ, một thoáng Mưa hồng rong ruổi u hoài.

Ngôi nhà ấy nở hoa xuân trước thềm, hoa sau vườn ngày đêm toả hương êm dịu. Ngôi nhà ấy ôm trọn nắng, chứa trọn mưa, là những cơn mưa ngẩn ngơ nhân thế, dậy chút chơi vơi nguồn cội. Nhớ sao nửa đêm thức giấc nồng, nghe cơn mưa xuân vội về bì bộp trong vườn động lòng xôn xao. Từng giọt rơi lộp độp trên tàu lá chuối cạnh ô cửa tưởng chừng như lá run lạnh giữa đêm. Nghe mưa lá nấc từng hồi, tôi nằm trăn trở trong căn phòng nhỏ nghĩ vẩn vơ điều gì không rõ, những cái sống bộn bề, rậm rì của tuổi trẻ hay phút mặc cả vô ý bên dòng thời gian không ngừng cuộc xoáy. Miệng nhẩm hát nhạc Phạm Duy: “Giọt mưa trên lá cố gắng nguôi ngoai/ Nói với loài người: xin cứ nuôi mộng dài”. Ôi, những đêm nuôi mộng dài rồi cũng qua mau, chỉ có ký ức như vết bụi còn bám mờ trên bức tường cũ. Đêm im lặng một khoảng vui khi nghĩ đến ngày mai nhuộm màu xanh biếc. Sớm ra vườn, thấy cỏ mềm như hơi thở lú nhú trên những gò hoang.

*

Mỗi mùa xuân đến, tôi mở toang cửa sổ để không khí trong lành tràn vào, tựa cửa ngắm cỏ hoa khoe màu trong vườn mẹ. Trong khu vườn, tôi thương cây bưởi hoa trắng thơm hương lặng lẽ, thương cây khế già bao mùa trái rụng kín chân, cây vú sữa chứa cả bầu trời cổ tích và cơ man nào ổi, cóc, me, đào, hàng dừa, bụi mỏ két trước ngõ... đã nuôi lớn tâm hồn tôi cùng những anh em trong nhà.

Trước nhà một hàng chuối mỏ két được trồng ngay bờ rào, cành lá vươn ra ao chuôm xâm xấp nước. Những bông hoa màu cam ấy được các lá bắc cứng cáp hình mũi mác bao bọc y như chiếc mỏ của loài chim két. Cánh hoa hình quả chuối nhỏ dài, xinh xinh cỡ bằng mấy đốt ngón tay và một vệt màu đen nhuộm đầu cánh duyên dáng như điểm nhãn phía trên. Hoa mỏ két có sức sống mãnh liệt và nhân rộng phạm vi sinh trưởng rất nhanh. Mới thấy một cây nhô lê mặt đất, ít lâu đã trở thành bụi rậm rạp, chẳng bao giờ tàn, cứ thế chúng lấn át những cây khác trong vườn. Loài hoa ấy tượng trưng cho một nội giới mạnh mẽ và tình yêu thủy chung, son sắt. Tháng hai lần, những bông đẹp nhất được các chị cắt gọn, tỉa lá hình trái tim cắm trên bình hoa ban thờ Phật và tổ tiên. Ngồi học bài trong nhà, trông lên màu hoa hoan hỷ, gương mặt Phật hiền từ nhìn con, lòng trải dài thương yêu vô hạn

Về bên trái bụi mỏ két là phần cổng vào nhà, rộng chừng hai mét ngang nhưng chẳng bao giờ có cánh cửa nào cố định ngoài những khung tre tạm được kéo ngang phòng các chú trâu đi lạc ngoài đồng. Hai bên lối đi là hai hai chè tàu xanh mướt mát chạy thẳng vào tận sân như hàng tiêu binh đón chào khách thăm nhà. Chè tàu được cắt ngắn độ ngang hông người lớn và với trẻ nít chúng tôi, hàng chè tàu là địa điểm lý tưởng để chơi trốn tìm. Lối đi ấy chếch về phía bên trái nhà ba gian lợp ngói liệt, phần bên phải hàng rào bẻ một góc vuông và cho mọc cao quá đầu người như bức bình phong lớn trước gian nhà chính. Có một bức bình phong bằng chè tàu tương xứng như ý muốn, người chủ nhân phải dụng công, chăm chút kỹ lưỡng, cắt tỉa hướng ngọn thường xuyên. Nếp nhà Huế xưa phải có bình phong, nó thể hiện bản tính sống kín đáo của con người nơi đây, hợp với tư duy phong thủy của văn hóa vùng đất. Hàng chè tàu giản dị, chất phác như một đường viền xanh trang trí khung cảnh ngôi nhà nhỏ thêm ấm cúng. Nó là biểu tượng của sự thanh bình, yên ả, cố quên đi cái đói, cái khổ đang vây quanh những mùa giáp hạt. Sướng nhất của tuổi thơ là đi học về, mệt quá không muốn vào nhà, cứ thế vứt bừa cặp sách lên hàng chè tàu xum xúp, rồi chạy nhảy quanh sân, khắp vườn. Những ngày ấy, bướm rập rờn bên bông vàng mong manh, cả khu vườn dậy hương đất mới. Chơi chán, ngửa mình ra cho rơi tự do vào trong bụi chè tàu như rơi xuống nệm êm, cứ thế nằm đếm tiếng chim kêu trong khu vườn yên tĩnh.

Ở cuối vườn, tôi rất nhớ và thương cây khế già đã bao mùa mưa nắng, bao vết đạn cày vẫn cho quả mỗi mùa qua. Cây khế già với tán sà gần sát mặt đất, đi giữa mùa hoa nở, đầu nhuộm tím cánh hoa rơi. Thân cây xù xì, khô khan là thế, ấy vậy lại cho ra những chùm hoa hình sao tím li ti, duyên dáng và cả những quả vàng ngọt miên man đầu lưỡi. Đi tới đi lui, chỉ nhón chân một chút là hái cả chùm vàng rụm đầy rá, đầy rổ vào hít hà tê lưỡi với đĩa muối trộn đầy ớt bột. Khế ngọt không thể tả, ngọt hơn bất cứ cây nào khác trong vùng. Nhiều ngày không ra vườn, trái chín rụng đầy dưới gốc, mùi nồng lừng lựng.

Khu vườn ấy thêu vào tâm hồn bé dại bao mộng ước ban sơ hiền hậu, là nơi trú ngụ của tuổi thần tiên, miệt mài tìm những đóa thơ nở trong mộng lành. Cứ đi và nhớ khu vườn đọng ướt những bờ mưa, đong đầy nắng mật, thêu tiếng yêu thương mặn mà hồi ức. Bây giờ, tôi đã lớn, chỉ tâm niệm trong lòng rằng đừng vội niêm phong ký ức, đừng khép chặt tâm hồn và rao bán giấc mơ xưa. Nếu lỡ khu vườn đã kém màu xanh, xin cho tôi mở toang hy vọng ngày mai ánh sáng, cho loang đi màu xanh đậm đà trong cơn khát từng ngày sống giữa phố thị bộn bề nhà cao.

Người bạn thơ vẫn ngồi trên ghế nhìn cúc vàng lay. Xa xa bến sông mây trắng lững lờ chở bao ý thơ. Tôi kể mới hôm qua lên núi Phụng, rừng đương thức, lộc trổ những sườn xanh. Dưới sông Hương, cỏ non ra lá mới. Nước đã trong sau những ngày mưa lũ triền miên dặn lòng người ở lại. Cồn Dã Viên sớm xuân sương khói bao quanh. Vừa chớp mi, bãi sông cong màu nắng. Đất mặc áo xanh. Trời mang lụa nắng. Niềm vui sống chảy tràn ra cây cỏ, hổn hển lòng người. Những hàng long não lấy về muôn triệu chiếc lá bị mùa đông mang đi. Trên cành non, những con chim rộn ràng nhảy nhót, phá đi sự im lặng não nề của đông giá. Ta nghe hàng ngàn nốt nhạc vui tươi thấm qua kẽ lá, đọng lại nụ hồng. Bạn gật gù nói cứ ngồi đây ngắm ráng chiều qua bóng Hoàng thành, thấy mặt trời lặn khuất chân trời xanh một dải. Quê hương đã thay áo mới, màu hy vọng sáng lên ngày mai. Còn tôi nuôi giấc mộng dài nơi căn nhà cũ, phơi lòng mình quá nửa chừng xuân.

Nếu nghĩ rằng tấm thân này vốn ở trọ giữa nhân gian thì những căn nhà ta từng ở sẽ là lữ quán. Về thăm nhà cũ, cửa đóng ỉm im những vết mốc cô đơn loang trên gỗ mục. Dường như mái ngói nâu cũ xỉn đang nghiêng mình kể chuyện. Bên vườn, chiều nắng gợn sóng xuân trên vô vàn lá biếc. Hiên ngoài quạnh quẽ bước chân, nghe cô liêu lảo rảo trong sân vắng. Chợt thèm tiếng dép mòn đế loẹt quẹt đi về mỗi ngày của em nhỏ, tiếng chổi xào xạc sân mơ của bà, tiếng ba pha tách trà mỗi sớm, tiếng mẹ lách cách dắt chiếc xe đạp cũ cũng đủ làm chật khoảng rỗng tâm hồn. Đốt một nén nhang, xông một lượt trầm, nhấp chén trà nguội, tôi lặng lẽ gõ ngón tay lên cung khờ khạo, để nhớ về những ngày đã xa trong ngôi nhà nhỏ nhiều mộng ảo.

Nguồn Văn nghệ số 6+7+8/2021

 

Tin liên quan

Mây núi Kỳ Sơn

Huyện miền núi rẻo cao Kỳ Sơn, Nghệ An, có một địa danh nhiều người biết nhưng không dễ đến được, đó ...

Con Pai ro mhai ra đi, người S’Tiêng ở lại

Trở lại nơi vùng đất cách xa nhất trung tâm tỉnh Lâm Đồng (xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên), cảm xúc ...

Cõi Phật

Bài thơ gồm 3 khổ thơ mỗi khổ 4 câu theo thể 5 chữ (từ). Tứ thơ khá rõ như tên đề của bài thơ là bàn ...

Trở lại miền đảo xa

Ra đến đảo, lần nào cũng thế, khi đặt chân lên cầu tàu ở đảo, lòng tôi đã dâng đầy cảm xúc, một Cô T ...

Người đại biểu Quốc hội ở xóm tôi

Bà Hoàng Thị Thiệu sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo tại xóm Bắc, làng Minh Lệ, xã Quảng ...

Thơ đoạt giải cuộc thi Thơ báo Văn nghệ (1019 - 2020)

TÒNG VĂN HÂN Mẹ tôi chửi kẻ trộm Những lần gà nhà tôi bị mất Mẹ tôi chửi: - Cái đứa trộm g ...

Gió Lào

Quê tôi nhiều đặc sản, một trong những đặc sản được thiên nhiên ban tặng là gió Lào. Mỗi năm, vào đầ ...

Từ một bài thơ đến việc đặt tên cho một thị trấn

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm Vinh năm 1975, tôi được phân công về dạy học ở Trường ...

Những chuyến đi và nền tảng cho thi ca

Chúng tôi thường đùa là nữ thi sĩ Việt Nam có 3 cái vai: vai gánh công việc, vai gánh gi ...

Những người giữ hồn làng

Thiên hạ bảo, người ta phát hờn ghen với người làng Gang của tôi ở cái xã Thụy Ninh thuộc huyện Thái ...

Mưa đầu mùa

Sớm nay, trong cái vắng tanh của con ngõ, tôi gõ nhẹ vào cái hộp gỗ đựng trà, nghe tiếng rỗng không. ...

Tiếng hát yêu đời

...Trịnh Công Sơn là người thuộc thế hệ của những con người bị ném vào lò lửa của chiến tranh khốc l ...