Về với hội làng


                               

 Mẹ hối hả tìm tôi với bức điện: “Em chuẩn bị lên tàu, chiều mai sẽ về đến nhà”. "Đi đi con, có nhẽ bây giờ tàu đã về đến ga rồi" - Mẹ tôi giục.

Tôi cắm đầu cắm cổ đạp. Chiều lưng lửng buông từng giọt nắng hanh vàng qua kẽ lá, rơi xuống con đường làng lát gạch nghiêng. Nắng leo reo những vụm lửa nhảy nhót trên tay tôi. Từng đốm hoa thủ thỉ kể rằng, con đường này là công quả bao đời con gái hợp thành. Mỗi đứa con thảo hiền xinh đẹp của làng lấy chồng, sính lễ là một khúc đường trải gạch son, báo hiếu công lao dưỡng dục của làng. Tự bao giờ, con đường như những khúc ruột làng, quanh co lượn miết theo ao sen, giếng súng, qua gốc đa ngàn tuổi lao xao khói sương huyền thoại.

"Cô!" - Tôi hét tướng, vừa chạy vừa dắt xe qua cửa ga, lao đến cô.

"Bà sao rồi con?" - Cô hỏi hấp tấp. "Bà đỡ nhiều rồi cô ạ!" Cô thở phào "Có thế chứ. Trên tàu cô cứ nhấp nhổm như ngồi đống than. Chỉ sợ không về kịp!" Nhìn cô bơ phờ, mắt đỏ hoe, tôi hiểu rằng cô đã khóc rất nhiều. "Cô ra đây thì nhà cửa với các em thế nào? Hai mươi nhăm tết rồi!" "Anh em nó lên bà nội, ngày ngày các chị đưa đi học. Nhà thì cô khoá, thi thoảng bà nội qua lại trông nom. Con này, bà ốm lâu chưa?" "Dạ, đã vài tháng. Đợt rét vừa rồi bà quỵ hẳn tưởng đi. Bố mẹ con bảo điện cho cô về. Hai hôm nay nắng ấm bà khá nhiều, bữa ăn được lưng cháo". "Lạy trời bà qua được mùa rét năm nay. Cô tính ở nhà lâu lâu chăm cho bà khoẻ hẳn. Sang xuân ấm lên là yên trí được rồi".

Tôi đèo cô đi lối tắt cho gần. Đến ao sen đầu làng, cô bảo dừng xe để cô rửa chân tay. Nước trong văn vắt ngấn lên bắp chân cô trắng ngần. Cô đứng lâu, lâu lắm, ngắm nghía dậu cúc tần vàng rực,vấn vít những tơ hồng. Thật kỳ lạ, những dây tơ màu vàng đấy chứ, sao lại gọi tơ hồng? Cô vươn tay rút, sợi tơ ròn rụm vỡ ra lóng lánh mặt ao.

"Cô Hay về, chúng mày ơi, cô Hay về" - Bọn trẻ con vừa hò reo, vừa chạy theo cô cháu tôi. Chả hiểu ai bảo mà chúng nó biết tên cô nhanh thế!

"Ô, cô Hay phải không? Gớm, u cô mong mãi, về mau đi" - Bà Hai Hoè đon đả. "Chào các bà, các bác, chào ông...!" Cô tôi luôn miệng cười tươi. "Cô ấy cứ đẹp ra, trẻ reo rẻo, trẻ hơn cả hồi năm kia đem thằng con về, các bà nhảy!". Bà tôi mừng quýnh, đôi mắt mờ đục rớm nước, ánh lên những tia sáng. Thoáng chốc, nhà tôi đầy chật tiếng cười. Cô tôi chia kẹo khắp lượt cho bọn trẻ.

Cô tôi bây giờ là Huê - Thanh Huê. Hay là tên ngày xưa, trước khi cô tôi đi Nam. Bố tôi, cô tôi, chú tôi là anh em ruột, nhưng không phải là con đẻ của bà tôi.

Thuở xưa, ông tôi nghèo lắm. Cha mẹ không một tấc đất cắm dùi, quanh năm cày thuê, cấy mướn. Ông tôi hiền lành đẹp giai, ai cũng quý, thường gọi anh cu Tiếu. Bà tôi sắc sảo khôn ngoan mà cao lớn, trắng trẻo. Bà mê ông tôi lắm. Bao nhiêu đám ngấp nghé bà đều lắc, một mực chỉ lấy anh Tiếu! Cụ tôi bực quá, gả bán qua quýt, gần như để bà theo không ông tôi. Sau sợ con gái đói khổ, cụ cho hai sào ruộng, bà tôi nhất quyết không nhận. Có đôi khuyên tai tích cóp làm vốn thời con gái, bà bán phăng, sắm một con thuyền gỗ, vợ chồng bốn mùa rong buồm dọc sông Đáy nước trong leo lẻo, len lỏi qua kẽm trống, Kiện Khê, chùa Bà Đanh, tháng Giêng nước xanh như ngọc. Vào tận Nho Quan Ninh Bình, Thanh Hoá. Khi vào thì chở muối, đường, mật, gạo, tương, cà, mắm tép... Khi ra thuyền chất đầy củi, sắn, ngô, khoai, đỗ, lạc, măng. Dọc triền sông, vô số chợ quê sầm uất, trên bến dưới thuyền. Hàng hoá sẵn đấy, cái gì đắt thì bán, cái gì rẻ thì mua. Thỉnh thoảng ông bà mới lên bờ, về nhà  nghỉ  ngơi.

Làm ăn  lên như diều, bà trích tiền mua dăm sào ruộng, mua cho ông chức Lý trưởng. Từ anh cu Tiếu, ông tôi trở thành ông Lý Tiếu. Một tay bà tôi gây dựng cơ đồ, sinh được mụn con giai kháu khỉnh. Nhưng rồi bà bị hậu sản vì tham việc ra đồng sớm. Cậu con thiếu sữa sài đẹn, chưa đầy một năm đã bỏ ông bà mà đi. Bà tôi ngất lên ngất xuống. Sau chữa chạy mãi thì khỏi ốm, nhưng thầy thuốc bảo bà không thể sinh nở được nữa. Nhiều người khuyên ông bà xin con về nuôi, bà không chịu. Bà thương ông lắm.

"Ông ơi ông nghe nhời tôi, lúc thầy u khuất núi đã dặn vợ chồng mình phải cố cho được thằng con giai nối dõi tông đường. Nay tôi không may đành phận, nhưng nhà ta quyết không thể tuyệt tự được." "Đã bảo không là không. Vợ nọ, con kia, rồi sinh chuyện này chuyện nọ, làng xóm người ta cười vào mặt cho! "Nuôi con chồng hơn bồng con người, các cụ dạy rồi. Ông yên chí, xưa nay chỉ có chuyện dì ghẻ con chồng, chứ tôi... tôi là mẹ già cơ mà." "Bà vẽ chuyện! Không nói lôi thôi nữa!" - Ông khăng khăng. "Tôi sẽ tìm vợ cho ông. Ông mà không chịu, tôi về nhà ngoại ở cho mà xem!" - Bà khóc tấm tức.

Rồi bà làm thật. Cuối cùng ông cũng nhượng bộ cưới bà Hai tôi. Bà Hai con nhà nghèo, không xinh lắm nhưng thuỳ mị, nết na, được bà tôi bảo ban như em gái. Chị em thân nhau , ăn ở không có điều tiếng gì.

Về nhà chồng chưa đầy năm thì bà Hai sinh bố tôi. Bà tôi quý hơn vàng, ôm ấp nựng nịu như con đẻ. Bố tôi rúc đầu vào ngực bà, mút chùn chụt. Tia sữa của bà tôi thông trở lại.

Chăm bẵm mẹ con cứng cáp, bà tôi bảo: "Nhà khan tiền, tôi với ông ấy đi thuyền vài chuyến, chờ đến vụ gặt. Dì ở nhà chăm con, ruộng đồng tốt xấu cứ mặc tôi. Đừng sốt ruột tham làm, rồi sản hậu như tôi ngày xưa thì khổ!"

Một năm sau, bà Hai lại sinh cô tôi, đặt tên là Hay. Đợi con gái cứng cáp, ông bà tôi lại lên thuyền, bồng theo bố tôi. Người chống sào, người bẻ lái và trông con. Đêm đêm, bố tôi lại rúc đầu vào ngực bà. Dòng sữa tuy ít nhưng vẫn ngọt ngào. Bà tôi ứa nước mắt vì hạnh phúc.

Cứ hết một chuyến hàng, ông bà tôi lại lên bờ. Bà tôi bảo ông ở nhà với bà Hai, trông nom ruộng vườn, còn bà thì rủ bà em họ bồng bố tôi lên thuyền. Khi cô tôi được sáu tuổi, bà Hai tôi mới sinh thêm chú Sơn. Bố tôi đã lên bảy, ở nhà giúp mẹ trông em và đi học, còn cô tôi theo ông bà đi thuyền.

Cô tôi xinh xắn, ngoan hiền, được bà tôi yêu lắm. Cho đên tận bây giờ, cô vẫn nhớ như in những khúc sông lấp lánh đầy sao,gió nồm thổi mát rượi. Trong lòng bà tôi, cô thiêm thiếp ngủ. Sáng dậy,bừng mắt thấy mênh mông sông nước, đôi bờ vàng rực màu hoa cải. Những khi thuyền neo nơi bến, hoa tươi quả ngọt lúc lỉu ngang đầu. Bà tôi bế cô đặt lên mui thuyền để cô tự tay hái những quả mâm xôi đỏ rực với ruối chín vàng mọng. Rồi cô theo bà  tôi lên chợ dân tộc, say mê chìm đắm giữa váy áo sặc sỡ sắc màu cùng đủ loại bánh trái, hoa quả.

Song những ngày tháng thần tiên ấy chẳng được bao lâu. Bà Hai tôi bị cảm, mất đột ngột, để lại chú Sơn mới có bốn tháng tuổi. Ông bà tôi  bán thuyền, tập trung làm ruộng, nuôi nấng các con. Chú Sơn lớn lên bằng nước cháo và những hạt sữa cuối cùng của bà tôi. Chú vừa mút vừa khóc ngằn ngặt, sữa chỉ rớm môi, còn ngực bà tôi thì bỏng rát.

Vậy mà chẳng được bao lâu, ông tôi lại bỏ bà tôi vì ngã nắng giữa buổi cày. Bà tôi khóc cạn nước mắt. Nếu không vì ba đứa con thơ dại thì bà đã liều mình mà đi theo ông tôi.

Từ đó, một mình bà tôi vật lộn với cuộc sống. Ban ngày làm đồng quần quật, tối về xay lúa giã gạo, cám bã lợn gà, cùng cục đến nửa đêm mới đi ngủ. Gà gáy canh ba đã vội vã thức dậy. Cực nhất là vào vụ gặt, ban ngày gằm mặt ngoài đồng, tối về đập lúa, sàng sảy thâu đêm suốt sáng.

Năm ấy, hai mươi chín tết. Tối nhọ mặt người, bà Ba Xưng reo réo ngoài ngõ: "Hớn ơi, u mày bảo cứ cho các em ăn trước đi, u mày còn cấy cố." Bố tôi vội vàng chạy ra. "Thím thấy u cháu còn mấy đóm mạ nữa?" "Ôi dào, tao lên bờ giời đã nhá nhem, rét cóng cả người, để ý gì. Nom như còn nửa lối cấy nữa cơ". Bố tôi quay vào, giục cô tôi xới cơm bón cho chú Sơn. Mâm cơm nguội tanh nguội ngắt, có mỗi đĩa rau muống luộc đỏ quạch chấm tương. Chú tôi khóc èo ẹo đòi u.

Khoảng tám giờ tối, tiếng ông Hai Hoè hổn hển ngoài cổng: "Thằng Hớn đâu, mau mang ôm rơm lên đây đốt cho u mày sư…ởi!"

Nhìn ông Hai Hoè còng lưng cõng bà tôi, bố tôi run bắn người, vừa mếu máo, vừa lập cập ra đống rút rơm.

"Đốt nhiều vào, để tao chạy về lấy chai rượu gừng".

Chưa giập bã giầu, cả xóm kéo đến chật nhà. Người bà tôi tím tái, lạnh giá. Xoa hết chai rượu gừng, đốt mấy ôm rơm, bà tôi mới hồi dần. Mọi người thở phào. Ông Hai Hoè oang oang: "Bà á, có nhẽ đến chết bà cũng không hết chứng tham. Rét cắt thịt, tối bưng mắt, nhìn thấy gì mà cấy mới chả hái! May mà con bé nhà tôi để quên cái bồ cào, tôi sợ sáng ra nhỡ có đứa nào thuổng mất, vấp phải bà ấy đang rục ở bờ ruộng, chứ không hôm nay bà ấy đi tong rồi. Bà tôi cười nhợt nhạt: "Vâng, tối quá, em chả nhìn thấy gì, cứ cấy phỏng chừng. Nhưng mà cũng đều ra phết đấy bác ạ. Nhận ruộng rồi, cố cho xong. Mai đã là ba mươi tết rồi, em đã mua sắm được gì đâu! "Ông Hai Hòe gọi to: "Thằng Hớn đâu, hôm qua tao thấy u mày giã gạo nếp, mang rá vào buồng xúc cho tao dăm bơ, sáng mai tao gói bánh ninh một thể, nồi đương rộng. Đỗ nhà tao vô khối, nhân tha hồ ngon"

Bà Tuất bưng nồi cháo gừng thơm phức từ dưới bếp đi lên, đỡ bà tôi dậy: "Nào, thím ăn cháo đi, húp thật lực mới lại sức được. Còn thịt lợn, nếu thím chưa đụng với ai, bên tôi hẵng còn nửa đùi đấy. Tiền thì không phải lo, giêng hai hay lúc nào giả chẳng được. Khoai tây, măng, miến, rau cỏ, mai tôi đi chợ mua hộ một thể, thế là được chứ gì? Cứ yên chí mà nghỉ ngơi nhá!"

Bà tôi cảm động ứa nước mắt. Khi mọi người về cả, bà bảo bố tôi dọn dẹp qua loa rồi lên giường. Bà quàng tay ôm cả ba đứa con vào lòng, nước mắt dàn giụa: “Ông ơi, giời còn để mắt đến nhà ta, cho tôi được sống nuôi các con nên người. Ông khôn thiêng cố phù hộ cho mẹ con tôi, ông nhá!”

Rồi thì các con của bà tôi cũng theo nhau mà lớn lên. Lao động cật lực cùng nỗi đau đã vắt kiệt sức lực bà tôi. Chưa đến bốn mươi tuổi mà bà tôi tiều tuỵ quá. Năm bố tôi mười sáu tuổi, bà tôi cưới vợ cho con trai để thêm người đỡ đần việc nhà. Tôi là đứa con đầu lòng của bố mẹ tôi.

Giải phóng miền Nam, ông cậu ruột, tức em trai bà Hai tôi từ miền Nam ra, xin bà tôi được đưa cô tôi vào thành phố Hồ Chí Minh rồi tìm việc làm trong đó "để khỏi chân lấm tay bùn”. Vào Nam, cô phụ giúp mợ bán hàng. Phố xá làm cô tôi mau nõn nà. Mấy tháng sau, cô tôi lấy chồng - con một thiếu tá Nguỵ đã sang Mỹ dạo “ba mươi  tháng tư”. Cưới được ít lâu, mẹ chồng cho cả hai ra ở riêng. Nhà mặt phố, cô bán lặt vặt cũng đủ sống, dư dật lại gom góp gửi về biếu bà và bố mẹ tôi. Bà bảo dành dụm để sửa nhà, và ngôi nhà lợp ngói nam mấy chục năm dột nát đã được sửa lại, thay bằng ngói ta đỏ tươi. Bà tôi về già lại béo khoẻ, hồng hào ra. Cả làng ai cũng bảo bà tôi hồng phúc, có được những đứa con hiếu thảo.

Được hai thằng cu, ông bố bảo lãnh cho chồng cô tôi sang Mỹ và ở hẳn bên đó, thỉnh thoảng gửi tiền về. Cuộc sống sung túc trở nên nhạt nhẽo, cô tôi gửi thằng lớn cho mẹ chồng, đem thằng nhỏ ba tuổi về quê chơi. Lần ấy, cô tôi cứ nấn ná mãi không muốn đi. Cô bảo ở quê bây giờ sướng thật. Cả làng nhà tầng, mái bằng, thay vào mái tranh bạc phếch khi xưa. Ngõ xóm trải bê tông rợp bóng mát như chiêm bao, tuyệt mù tăm tích lầy lội khi xưa. Mùa gặt, đồng được tháo kiệt nước, máy gặt êm ru chạy. Ngày xưa, ruộng bùn sút đến ngang lưng, ì ạch từng gánh từ đồng về sân, đập lúa thâu đêm suốt sáng. Vậy mà còn mừng vì có hột ăn, mất mùa thì trắng tay. Tháng ba ngày tám đói dài, ăn củ đao, củ chuối  mà qua. Ngày xưa ... Cô tôi cứ xuýt xoa mãi.

Rồi cũng đến lúc phải lên tàu về Nam. Tôi theo cô vào đó hai năm. Cuộc sống nhàn hạ, nhưng tôi thấy buồn nhớ quê, nhớ khung thêu da diết. “Nó bảo một lòng chờ con về, gái làng chả có ai vừa xinh vừa thêu giỏi như con” - Mẹ tôi viết thư vào bảo thế. Vậy là tôi về. Cô tôi khóc nhiều lắm. Ngày cưới tôi, cô tôi không về được, gửi đôi hoa tai làm quà mừng, nói là để hai vợ chồng làm vốn.

Hội làng năm ấy mở đúng rằm tháng giêng. Gần như suốt ba ngày, cả nhà  tôi có mặt ở ngoài đình. Bố tôi là chủ tế, mẹ tôi chỉ huy việc nước nôi, nấu nướng. Em gái tôi trong đội múa, em trai tôi ở đội khiêng kiệu. Bà nắm tay cô đi trong đám rước. Nét mặt bà tôi rạng rỡ, nom trẻ ra đến vài tuổi.

Đình làng tôi thờ ba vị tướng tài thời xưa, là ba anh em ruột có công giúp vua đánh giặc giữ nước.Vì thế, lễ rước gồm ba cỗ kiệu lớn: Kiệu ông Cả, kiệu ông Hai và kiệu ông Ba. Dẫn đầu là đội Rồng - Lân múa mở đường, khoan thai uyển chuyển, múa lượn trong nhịp trống trầm hùng. Đoàn rước đông nghìn nghịt, dài hàng nửa cây số, màu cờ sắc áo rực rỡ, dập dìu trên đồng lúa xanh non, rước về miếu Hai cô, rồi vòng trở về đình trên con đường chính giữa làng lát gạch nghiêng.Có những lúc cả ba cỗ kiệu tự dưng quay tít rồi lướt nhanh như bay làm đội kiệu chạy bở hơi tai, mặt người đỏ lựng, lấm tấm mồ hôi. Dân làng chạy theo ào ào. Các ngài vui quá, đang đùa với con cháu đấy! Có lúc kiệu dừng hẳn, đội kiệu cố sức cũng không nhích được bước nào. Ông Ba giỡn đấy, ông Ba nhỏ tuổi nhưng thông minh, nghịch ngợm nhất mà! Chả biết việc kiệu quay, kiệu dừng diễn ra trước mắt tôi có thật hiển linh, hay là do tài nghệ “điều binh khiển tướng” của các cụ nhà ta đối với đội khiêng kiệu! Song sự thực thì chính điều đó làm cho lễ rước trở nên vừa trang nghiêm long trọng vừa tưng bừng náo nhiệt đến tột độ, làm nên phút thăng hoa trong tâm thức của cả một cộng đồng, gắn bó mọi người trong vẻ đẹp lộng lẫy mà tinh khiết, thánh thiện.

Kiệu dừng trước sân đình. Đội rồng, lân trình diễn những điệu múa ngoạn mục nhất, mời ông Cả, ông Hai, ông Ba vào đình.

Nhìn những thiếu nữ má đào, yếm thắm, áo dài tứ thân lụa hồng, thắt lưng hoa lý rộn ràng, uyển chuyển trong điệu múa xênh tiền, bà tôi khẽ nói: "Hay này, trông con Lụa giống hệt con với mẹ đẻ con ngày xưa!" Cô tôi bồi hồi, se sẽ đáp: "Vâng. Nhưng mà bây giờ quần áo màu sắc đẹp hơn, lễ rước to hơn nhiều". Suốt ba ngày hội, không khí trong làng lúc nào cũng ồn ào, náo nhiệt. Hết phần tế lễ là phần hội. Ngày thi bơi chải, kéo co, bắt vịt, vật, đánh cờ.  Buổi tối thi hát chèo, ngâm thơ, hát trống quân, hát đối... Cô tôi say sưa trong hơi ấm hội làng

Bà tôi không qua được vụ rét năm ấy. Người ra đi thanh thản giữa một chiều tháng hai rét ngọt. Lo gọn ghẽ lễ cầu siêu bốn chín ngày rước vong hồn bà tôi lên chùa, cô tôi mới lên tàu vào Nam.

                  Hai mươi năm sau, vào độ cuối tháng chạp, bố mẹ tôi nhận được thư của cô: “Em đã bán nhà để ra Bắc ở hẳn với anh chị và các cháu. Hai con em đã ở bên Mỹ cả, chúng nó cũng nhất trí quyết định của em. Tiền  

         của bố con nó gửi về sống dư dật, nhưng em ở trong này buồn  lắm. Em

sẽ về trước tết để còn dự hội làng."

                                                                        

                                                                         V.M.T

Nguồn Văn nghệ số 8/2019

 

 

 

 

 

 

Tin liên quan

Cái duyên bắt đầu từ những ngọn sóng

​Boong tàu lau xong sạch bóng. Toàn thể mọi người tập trung boong trước ăn sáng. Ăn xong, tôi cùng m ...

Hang Dó, dàn chong chóng đang quay

Ít nhất, trong chặng đời lính tráng, tôi có hai mươi năm sống trên mảnh đất này. Hai mươi năm nếm tr ...

THƠ PHẠM VÂN ANH

Cực Bắc mang vầng trán đất Mẹ Ngẩng lên nhìn trời mà hỏi ...

Triển lãm tranh “Cha và Con”

Triển lãm được trưng bày tại Trung tâm Triển lãm 29 phố Hàng Bài – Hà Nội. Đây là lần đầu tiên, 3 ch ...

Kế hoạch phòng, chống tác hại thuốc lá giai đoạn 2019-2020 của UBND Thành phố Hà Nội

Thực hiện Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá của Quốc hội khóa XIII ngày 18/6/2012; Quyết định số 22 ...

Thời đã xa

​Làng tôi nằm dọc theo một dòng sông nhỏ. ...

Cao ngựa đun bằng củi vải

​Việc mời được người họ Hà đến nấu mẻ cao con ngựa trắng làm chú tôi vui lắm. Ông bảo: “Anh sang chú ...

Nỗi niềm xóm Bến

​ Bến đò Dền đây rồi! Tôi thầm reo lên. Lòng nao nao, xốn xang đến lạ. Qua đò, sang b ...

Da diết tiếng đồng tháng 7

Tôi trở lại làng quê Thạch Trị có đền thờ Miếu Ao những ngày tháng 7 nóng như đổ lửa. Tôi sinh ra là ...

Tình người nơi bão lửa

​Chỉ trong 3 ngày từ 28/6 đến 30/6 vừa qua, cơn đại hỏa hoạn chưa từng có xảy ra trên dãy núi Hồng L ...

Hai tiếng rưỡi - đêm có mưa

​Tiếng lá khô cuốn sào sạo trên mặt đường xen lẫn những âm thanh rú rít của gió báo hiệu một trận mư ...

Rượu bốn mươi năm

​Trong bóng đêm mờ mờ, hai ngôi mộ quét sơn là hai khối trăng trắng nằm thiêm thiếp bên liếp dừa. Ch ...