Về bài thơ Nắng chiều của Phan Khôi


 

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Nắng chiều

Theo Phan An Sa trong cuốn Nắng được thì cứ nắng thì vào một buổi chiều ngày 2 tháng 10 năm 1956, Phan Khôi một mình nằm trên giường, lòng nặng trịch, mắt nhìn đăm đăm lên trần nhà, tự mình vật vã với nỗi khổ tâm chưa viết được bài báo về Vũ Trọng Phụng theo như thời gian mà nhà xuất bản Minh Đức yêu cầu. Trớ trêu thay, nỗi khổ tâm ấy không phải vì ông không đủ tài để viết mà vì chưa biết viết cách thế nào để không bị ghép vào tội đề cao Vũ Trọng Phụng, một nhà văn tài năng từng bị dư luận lúc bấy giờ lên án là có tư tưởng tờ-rốt-kít.

Bất thình lình, ông nhận ra những vệt nắng rọi vào phòng sao mà đẹp đến thế. Ông vùng dậy, mở toang hai cánh cửa sổ. Cái nắng thu vàng như chưa bao giờ đẹp đến thế thúc giục ông ra khỏi nhà. Ông thả bộ từng bước khoan thai dọc phố Hàng Bài, qua ngã tư Lý Thường Kiệt, ngã tư  Hai Bà Trưng, qua đầu phố Hàng Khay, đến chỗ giáp với cuối phố Đinh Tiên Hoàng là tới hồ Hoàn Kiếm. Ông ngồi lên một cái ghế ở ven hồ, mắt ngó về phía Tháp Rùa, để mặc cho gió hồ tự do mơn man lên đầu, lên tóc. Cây ba-toong phía tay phải được ông tựa xuôi theo chiều đứng của chiếc ghế. Đó là phút tĩnh tâm duy nhất mà ông bất chợt tìm thấy trong một buổi chiều cuối thu, vào lúc chỉ mỗi mình ông với mặt hồ thiêng. Ông tắm trong nắng, thở bằng nắng, nhìn bằng nắng và chính nắng làm dội lên trong ông tất cả cái quá khứ dài dặc, cái hiện tại đầy tai ương và cái tương lai ngắn ngủi ở phía trước chỉ toàn một màu đen. Trong phút giây ấy, như một thứ bản năng sống, ông vụt đứng lên khỏi ghế, tay giữ chặt lấy cây ba-toong, chống vững chãi xuống mặt đất. Ông tự chống trả những gì đang dội về trong đầu bằng những lời tự sự cứ dần dần hiện ra trong dòng suy nghĩ của ông.

         Ông ngồi bên hồ cho tới khi trời tắt nắng, rồi chậm rãi bước từng bước về nhà. Đến nhà, ông ngồi vào bàn ghi lại mấy câu tự sự ấy và sắp xếp chúng thành một bài thơ, đặt tên là Nắng chiều. Bài thơ này sau đó được đăng trên Giai phẩm mùa thu của Nhà Xuất bản Minh Đức vào năm 1956. Bài thơ chỉ vỏn vẹn có bốn câu, như sau:

Nắng chiều

Nắng chiều đẹp có đẹp,

Tiếc tài gần chạng vạng.

Mặc dù gần chạng vạng,

Nắng được thì cứ nắng.

 

Nên hiểu bài thơ Nắng chiều như thế nào cho đúng?

Nói theo cách của Phan Khôi thì Nắng chiều là một bài thơ thuộc loại “suôn đuồn đuột mà xốp xồm xộp”, chẳng có gì là khó hiểu cả. Ấy thế mà khi đọc tới các bài viết của các nhà phê bình có liên quan tới bài thơ, tôi vẫn cứ ngờ ngợ là họ đã hiểu sai câu thứ hai. Tìm hiểu thì thấy vấn đề nằm ở chữ “tài”. Có người hiểu chữ “tài” đây là tài năng và cho rằng ở vào cái tuổi gần bảy mươi, Phan Khôi tự cho mình đã cạn tài, cạn tài rồi nhưng vẫn còn cố gắng gượng.

Tôi không hiểu như thế. Theo tôi, “tài” ở đây hoàn toàn không có nghĩa là tài năng. Nó chỉ là một thứ tiếng đệm, thường theo sau tiếng “tiếc”, là tập quán ngôn ngữ của người Quảng Nam. Điều này cũng đã được nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên, người Quảng Nam, xác nhận bằng hai thí dụ anh vừa gửi cho tôi mới đây: “Tiếc tài mình không được dự cuộc họp ấy”; hay “Tiếc tài anh ấy phải bỏ cuộc quá sớm”. Như vậy, “tiếc tài” chẳng qua chỉ là “tiếc rằng”, “tiếc vì”, “tiếc là”… đó thôi.

Vậy là không có chuyện tài năng gì ở đây cả. Trước sau chỉ có nắng chiều và… nắng chiều. “Tiếc tài gần chạng vạng” tức là tiếc trời đã sắp tối, màn đêm đã sắp về, quỹ thời gian cho một đời người cũng đã sắp cạn, tác giả cũng đã thuộc vào loại “cổ lai hy” rồi, cần phải làm gấp một cái gì đó có ích để không bị thời gian bỏ lại phía sau…

Hơn nữa, sống gần Phan Khôi lúc cuối đời, tôi chưa từng nghe ông than vãn về tài năng của mình bao giờ cả. Mà sự thực thì Phan Khôi cũng đâu đã cạn tài. Chỉ chừng nửa tháng sau khi viết xong Nắng chiều, ông đã được Hội Nhà Văn Việt Nam cử sang Trung Quốc cùng với nhà thơ Tế Hanh dự lễ tưởng niệm 20 năm ngày mất của Lỗ Tấn. Tại đây, ông đã viết bài thơ chữ Hán có tên là Tụng Lỗ Tấn đã dịch ra tiếng Việt và cũng đã được một vài tác giả đưa vào sách. Tới đầu năm 1958, nghĩa là sau đó chỉ gần hai năm, Phan Khôi còn viết truyện ngắn Ông Năm Chuột, thuộc loại truyện ngắn hay nhất của ông, đăng trên tuần báo Văn của Hội Nhà Văn Việt Nam. Cho mãi tới trước khi nhắm mắt một hai tuần lễ, ông còn kịp viết xong Những con số không nhất định trong từ ngữ kia mà.

Vả lại, với một nhà văn, một nhà nghiên cứu thì ở vào cái tuổi suýt soát bảy mươi, nếu không muốn nói tài năng đang ở vào độ chín thì cũng chưa thể nào đã cạn được. Thế thì sao dám bảo rằng ông tự cho mình đã cạn tài?...

 

Nắng chiều Phan Khôi và Đăng Lạc Du nguyên Lý Thương Ẩn

Lý Thương Ẩn (813-858) là nhà thơ Trung Quốc thời Vãn Đường. Ông là tác giả bài ngũ ngôn tứ tuyệt Đăng Lạc Du nguyên nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc. Nguyên văn bài thơ như dưới đây:            

     Phiên âm:

Đăng Lạc Du nguyên 

Hướng vãn ý bất thích

Khu xa đăng cổ nguyên

Tịch dương vô hạn hảo

Chỉ thị cận hoàng hôn

Dịch thơ:                      

Chiều tới lòng rối bời,

Rảo xe cổ nguyên chơi.    

Trời chiều đẹp quá đẹp,

Tiếc màn đêm tới rồi.

Tôi chưa được đọc bài nghiên cứu nào cho biết Lý Thương Ẩn viết Đăng Lạc Du nguyên vào thời điểm nào của cuộc đời ông, nhưng dựa vào những gì mà người đọc lĩnh hội được ở câu mở đầu bài thơ thì có thể là Lý Thương Ẩn đã viết Đăng Lạc Du nguyên vào những năm cuối của cuộc đời mình. Tôi ngờ rằng khi viết Nắng chiều, Phan Khôi đã nghĩ nhiều, hay ít ra cũng đã nhớ tới bài thơ Đăng Lạc Du nguyên của thi nhân đời Đường.

Tương đồng từ thể thơ, thi liệu, cho tới tâm tình người viết. Cùng là ngũ ngôn tứ tuyệt, cùng là vẻ đẹp của thứ ánh nắng lúc mặt trời đang lùi dần về phía chân trời đằng tây. Thơ nào mà chẳng mang tâm trạng mà tác giả muốn gửi gắm, chỉ khi nhiều khi ít, tác giả này khác tác giả nọ mà thôi. Lý Thương Ẩn và Phan Khôi cũng không là trường hợp ngoại lệ. Khác chăng chỉ ở chỗ: Lý Thương Ẩn thì phần nhiều là tiếc nuối cho một vẻ đẹp sắp lụi tàn, còn ở Phan Khôi thì bên cạnh sự tiếc nuối đó còn như muốn cố sức để vươn lên, vươn lên làm chủ bản thân mình cũng như làm chủ hoàn cảnh: Mặc dù gần chạng vạng, Nắng được thì cứ nắng!

Nguồn Văn nghệ số 23/2019 

                                                                               

Tin liên quan

Văn hoá trong thời cuộc

Hồ Quang Lợi cho rằng, văn hóa là Hành trình nhận thức các giá trị “Trong những cơn đau lịch sử”. ...

Hành trình viết - đối thoại quá khứ và tương lai

Viết và Đối thoại là công trình gói ghém hơn nửa thế kỷ làm nghề và nghiệp viết, cả báo chí và nét c ...

Vai trò của Văn học đối với sự phát triển của báo chí

Vẫn biết ảnh hưởng qua lại giữa văn học và báo chí là ảnh hưởng song phương, đa chiều nhưng là một m ...

Khiêng võng à la

Đã xuất bản 13 trường ca, không lạ khi mấy năm trước, nhà lý luận phê bình Chu Văn Sơn khi còn sống ...

Ngó sen âm thầm dưới đáy hồ

​ Làng quê anh hao hao làng quê tôi. Đấy là ngôi làng cổ, một thời trù phú, cách trung tâm thủ đô ch ...

Lung linh như thể tình yêu

Trong mênh mang thế giới nghệ thuật thơ, “cổ mẫu” trăng luôn biến ảo, gợi lên nhiều cung bậc cảm xúc ...

Tiểu thuyết Huế từ sau 1986 đến nay

Nói đến Huế, xưa nay người ta vẫn cho rằng thơ và bút ký là thế mạnh. Nhưng hiện tại, Huế phát triển ...

Và lại tuổi 20 ra trận

​Cách đây vài năm, Đoàn Tuấn đã có cuốn tiểu thuyết dày hơn 500 trang nhan đề Mùa chinh chiến ấy. Mộ ...

Tất cả đều gần gũi với tôi

Tập thơ gồm 70 bài, 88 trang ấn hành, tháng 4/2019, từ khổ in, trình bày bìa giữ nguyên hình thức nh ...

Mấy suy nghĩ về xây dựng văn hóa trong chính trị

Văn hóa là những giá trị thuộc về con người, của con người, do con người sáng tạo ra, mang tính ngườ ...

Thơ, văn xuôi, và những kết hợp nghệ thuật

Trong quan niệm mang tính “cổ điển” của lí luận văn học Nga - Xôviết, một tác phẩm văn học bất kì nà ...

Cùng trẻ thơ đến mọi miền đất nước

​Từ năm 1991, Hoài Khánh đã liên tục xuất bản 4 tập thơ dành cho thiếu nhi: Bé Kim Giây (1991); Tia ...