Thượng cờ nơi biển bắc


 

Từ Hòn Gai, qua Khe Tù, xe chúng tôi chạy dài theo những cánh rừng đậm nhạt, tời Tiên Yên. Cơm trưa. Không quên ăn miếng bánh “Gật Gù” đặc sản “hiếm” của dân núi Đông Bắc… Vào đến Móng Cái. Tôi cố tìm lại cái thị trấn cũ mình đã từng ghé qua năm 1962. Nó là một phố nhỏ, nằm thẳng đuột như lòng ống. Khác gì ruột ngựa, nhưng đâu còn… Tới Mũi Ngọc rồi Sa Vĩ, cái đuôi cát. Nghe sóng hát và đón ánh mặt trời sớm…

 

Ảnh Internet

Sóng Sa Vĩ chờm mép cát và rừng phi lao, chạy lượn theo vòng cung lớn… Trọn đêm nghe sóng địa đầu, thổn thức chờ tàu ra đảo…

*

Đảo Trần hay còn gọi đảo “Chằn”, hiên ngang giữa trùng khơi đang chuẩn bị vào xuân. Gió hơi se lạnh. Cái lạnh đầu mùa dễ nhớ…

Kia rồi! Cột cờ trên núi cao 188m, phải cuốc bộ leo vài trăm bậc mới lên được. Chúng tôi tổ chức thượng cờ ở đó.

Đón đoàn ra đảo, người đầu tiên bắt tay tôi Đồn trưởng Biên phòng Phạm Hồng Thái, sau đến trưởng thôn Nguyễn Thị Cảnh. Những người mà sóng gió địa đầu tổ quốc đang từng ngày từng giờ táp vào người… Cô Cảnh nói liền: Thôn em có mười ba gia đình, năm tư khẩu. Đời sống khó khăn, như sóng đánh vỡ bè một nhà đã bỏ chạy… Tôi nhìn ra biển thấy những con sóng lấp lờ, liên tưởng tới câu của Cảnh…

Đảo Trần. Hòn Đảo có diện tích 4,2km2 nhỏ hơn diện tích Hồ Tây ở Hà Nội. Nơi đây chỉ có sóng gió, không có tiếng chim sâm cầm chiều thu, và chưa bao giờ được nghe tiếng hát du xuân trên mặt nước. Bù đắp lại sự thiệt thòi đó, hôm nay các cháu được ôm chiếc chăn ấm, ăn miếng bánh phố cổ Hà Thành do anh Nguyễn Đình Khuyến, Phó chủ tịch quận Tây Hồ, cùng Xuân Cường nơi “làng lúa, làng hoa” mang ra.

Đảo Trần được mệnh danh là “Hoàng Sa” nơi biển Bắc, cách đất hàng xóm chín hải lý. Con mắt biển khơi (vọng Hải Đài) Tổ Quốc. Nó khác với đảo Ngọc Vừng (Tĩnh Hải) vùng biển lặng nơi tổ tiên ta cũng đã đặt những khẩu súng cổ lỗ trên núi Ngọc, gọi là Núi Súng. Đảo Trần chỉ cách nhà “hàng xóm” chín hải lý. Sóng nước người cứ muốn trùm sóng nước mình. Chắc chắn nơi đó, một hạt cát cũng thấm máu ông bà mới giữ được đảo đến hôm nay.

Đảo Trần trước thuộc đảo Thanh Lân, từ quần đảo Cô Tô tách ra. Sau Cô Tô thành huyện đảo, do anh Chim Chím làm Bí thư. Thanh Lân từ chữ “xín lần xáng” mà ra. “Lân” là rừng. Anh Tàu đặt cái tên đó, khi chạy loạn sang ăn nhờ ở đợ nước Việt. Trước mặt đảo Trần có hòn “Trần Con” toàn đá to, đá nhỏ, lởm chởm răng hà như hàm sói. Nơi không cây, không đất. Tàu bè neo đậu. Hòn “Trần Con” là nơi cung cấp nguồn hải sản nuôi chiến sĩ đồn biên và tổ coi đèn biển. Chiều hôm trước đoàn ra đảo, hơn ba mươi chiến sĩ chèo xuồng ra ngâm mình dưới nước đánh hà, mò ốc, bắt ghẹ, đánh cá, lo bữa cơm trưa hôm sau cho cả thôn đón khách đất liền… Xa hơn là hòn Nhọn nhấp nho sóng lượn. Dân Cô Tô sang đó cắm chốt giữ đảo từ bao đời...

Cũng như đảo Ngọc, có giếng Ngọc. Đảo Quang Lạn có giếng Hệu. Đảo Trần có giếng cổ. Nước giếng đảo hầu hết ngọt và thơm. Từ xưa đã có câu ca. “Khi đi tóc mới ngang vai/ Khi về tắm nước giếng Hệu đã dài ngang lưng”… Giếng đảo Trần, nhỏ hơn giếng Hệu làm sao đủ nước cung cấp cho dân, cho chiến sĩ giữ đảo. Điện chưa có. Nước không. Chiến sĩ thay nhau vào Sa Vĩ tắm giặt rồi chuyển nước ra cho dân. Mười hai gia đình với năm tư khẩu. Có chín cháu học liên thông từ vỡ lòng đến lớp bốn do cô Minh dạy. Cô Minh quê ở Sơn La. Giọng cô đã truyền cảm chữ nghĩa cho học sinh bên đảo Thanh Lân. Đảo Trần chưa có ai chịu đứng chân dậy các cháu. Cô nghĩ mình như thân hoa lau trắng chịu đứng chân ở đảo. Sang đấy dậy cho các em. Chín em chia thành mấy lớp. Hai em học lên lớp 5, chiến sĩ đồn biên dành dụm tiền lương “nâng bước các em tới trường” trong Móng Cái. Còn một em nhà nghèo quá, Đồn biên đưa về ở với chiến sĩ. Nhà cô trưởng thôn mới dựng. Mái che chưa đủ, đêm mưa dột, ôm quần áo chạy… anh em đồn Biên lại tới… Mà đâu chỉ có nhà trưởng thôn. Nhà ai khó khăn các chiến sĩ Biên phòng đều có mặt. Có đứa trẻ đang học bị ốm. Cô Minh réo điện thoại cho bà thôn trưởng, mọi người chạy đến cõng em về đồn, lo chuyến tàu chở gấp vào viện Móng Cái… Chuyện đảo nhiều quá. Chuyện nào cũng cảm động. Nghe chuyện chưa hết, đoàn đã leo tới cột cờ.

Chúng tôi thượng cờ vào lúc 10h30 sáng, khi cơn mưa rào vừa “ngắt” nắng vàng rực rỡ. Cái nắng sau mưa làm trời cao hơn, biển xanh hơn, gió thổi nhẹ hơn. Và lá cờ cũng như rạng rỡ hơn…

Tôi là người đầu tiên trong đoàn được ký tên vào cờ sau hôm đó. Trước đó trên lá cờ đã có chừng hơn ba mươi chữ ký nữa. Mùi mực thơm hòa trong nắng bay lên… cảm giác lúc đó sung sướng tự hào sao.

Ngước nhìn cờ đảo Trần, không khỏi nhớ tới cột cờ Lũng Cú. Trước kia cột cờ Lũng Cú bằng cây Sa mu, do Lý Xè Páo cùng dân Xéo Lủng dựng lên. Giờ cột cờ xây bằng bê tông, cao to, lá cờ rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Lá cờ Tổ Quốc là sự khẳng định chủ quyền nước Việt nơi biên cương cực Bắc. Cờ Đảo Trần được Nguyễn Khánh Toàn. Người con biển đảo, ở trấn ngoài đảo Quang Lạn. Anh tìm đến số nhà 67B – Hàng Trống, địa chỉ quen thuộc của người may cờ Tổ quốc. Tự tay Toàn chọn vải, lựa từng cuộn chỉ, yêu cầu bà chủ may tay thật kỹ lưỡng… Anh muốn gửi tình cảm của mình, của đồng bào quê anh vào từng đường kim mũi chỉ may nên lá cờ thiên liêng này.

Cán bộ, chiến sỹ đồn Biên phòng và nhân dân trên đảo Trần lặng nhìn lá cờ tung bay giữa biển trời vùng biên cương Đông Bắc mà rưng rưng nước mắt. Lâu lắm rồi mới lại có một buổi lễ “Thượng Cờ” thiêng liêng như thế ở nơi này. Lá cờ là biểu tượng của chủ quyền dân tộc, khẳng định cột mốc biển đảo nước non. Lá cờ đỏ sao vàng hiên ngang như một người chiến sỹ mang dáng đứng dân tộc Việt Nam giữa biển trời. Mọi người đều hiểu lễ “Thượng Cờ” là việc làm thiêng liêng, mang tinh thần tự hào và cũng là trách nhiệm với đất nước, dễ mấy ai được hưởng vinh dự này… Hồn thiêng sông núi nhập vào lá cờ bay giữa biển biếc, trời xanh… Nguyễn Khánh Toàn nâng đuôi cờ tung mạnh lên không trung. Lá cờ gặp gió bay rộn ràng theo nhịp khúc hát Tiến Quân Ca đầy hào khí. Còn Phạm Hồng Thái, gò lưng lấy hết sức của người lính biển kéo tời đưa lá cờ lên đỉnh cột. Lá cờ gặp gió bay phất phới giữa trời xanh, biển xanh, núi xanh, giữa tiếng reo hò của quân dân đảo Trần. Hòn đảo đã đẹp, nay có thêm lá cờ càng rạng rỡ và bề thế. Ông cha đã giao cho chúng ta một giang sơn với muôn vẻ núi non hùng vĩ. Con người cũng phải lớn theo, trưởng thành hơn để giữ vẻ đẹp giang sơn tổ quốc.

Trong lễ thượng cờ thiêng liêng hôm ấy, Nguyễn Khánh Toàn đã hướng về phía Sa Vĩ, với mong muốn lá cờ của đảo Trần luôn hướng về đất liền. Đó có lẽ cũng là tâm nguyện của người dân đảo Trần, hướng về nơi những người ruột thịt của họ đang sống trong đất liền, nhưng lúc nào cũng nặng lòng với biển đảo yêu thương. Trong giây phút cảm động, Nguyễn Khánh Toàn ôm lấy nhà văn Nguyễn Xuân Thủy, một thành viên trong đoàn. Một người từ biển đảo lớn lên, một người tắm lửa đảo Trường Sa với tư cách một chiến sĩ vững tay súng, tay bút. Toàn nói: “lúc tung cờ tôi nghe thấy tiếng gió hú gọi hồn Tổ Quốc”…

*

Tôi ngồi ăn quả sim cuối mùa do chiến sĩ Dương “râu” của Toàn đã trèo non lận núi vặt được. Có lẽ đất đảo đã vặn mình nuôi sim chín. Nắng gió biển làm sim thơm hơn, ngọt hơn, cành đào “xuân” hơn nụ hơn. Tôi cắn quả sim, mùi vị lạ thường lòng cảm thấy hối hận. Tôi nghĩ lẽ ra quả sim cuối mùa, đảo đá “vặn mình” nuôi nấng. Người “thưởng” nó phải là cô Cảnh hay chiến sĩ đảo đá. Bởi họ là những “người anh hùng”, là cái áo giáp nơi biển Bắc… Biết tôi nghĩ gì, cô trưởng thôn nói “Em cùng chồng (anh Hiền) cõng thằng con ra Đảo. Trong túi vẻn vẹn mấy đồng tiền “còm” và bao tải quần áo. Bước chân xuống tàu nước mắt như mưa. Làm người đã là khó. Làm cán bộ còn khó hơn nhiều. Mình không đi, ai đi?.. Cán bộ phải gương mẫu. Nói và làm đi cùng một lối. Đâu “nói một đằng làm một nẻo”. Thằng thứ hai sinh ở đảo thiếu thốn trăm bề, nhưng mở mắt đã thấy đèn biển nhấp nhóa sáng. Trên núi 203m, chiến sĩ Phạm Công Hùng người Hải Phòng trông nom đèn biển, mỗi năm về phép một lần, một ngày ba lần leo cột đèn thay dầu…

Hùng đã đèo tôi hai lần vượt dốc để lên cột đèn gặp anh trạm trưởng trạm Hải Đăng. Anh tâm sự “Tôi làm đơn xin đất đưa vợ con ra đảo lập nghiệp. Ra đây là chấp nhận hy sinh, nhưng đảo rất cần tăng thêm dân số. “Mỗi người dân là cột mốc sống trên đảo”…

Nghe trạm trưởng nói vậy. Cô Cảnh đùa “Nhà em có ba tay súng, tay em có mái chèo nụ. Thằng giặc nào thử bước lên đảo xem. Đừng đùa với dân đảo Trần…”.

Lúc nãy tôi cúi mình trước cờ Tổ quốc. Giờ cúi mình trước dân đảo đá… Có ra đảo thấy rõ hơn hình ảnh mỗi người dân là một cột mốc, một tay súng, một tay chèo, một giọng nói hảo sảng giữa biển khơi. Càng thấy cái nghĩa của sự toàn vẹn lãnh thổ, sự độc lập, tự chủ của kinh tế, chính trị, văn hóa của dân tộc nơi núi sông phên giậu này.

Phạm Dũng, Bùi Xuân Cường, Trần Thắng, những thành viên trong đoàn, là lớp kỹ sư thời đổi mới. Trong chuyến đi này, chứng kiến lễ thượng cờ nơi biển Bắc, ai cũng tỏ ra xúc động. Sau khi cùng mọi người xếp hàng đầu cầu cảng ngước nhìn cờ tổ quốc trước khi rời đảo, Phạm Dũng ngẩng cao đầu huýt lên một tiếng sáo gió, mắt hướng vào cửa sổ Đồn Biên nói to: Xin chào cờ Tổ quốc, xin chào người anh em, chiến sĩ thân yêu của nhân dân đất liền. Chúng tôi xin tôn vinh các anh và được vinh dự làm bạn với người trên đảo...

Con tàu rời bến, bỏ lại sau lưng những đám bọt nước mang theo những đỏ, rong rêu và các loại rác rưởi từ ngời biển giạt vào đang lùa lên bãi. Nhưng chỉ ít lâu nữa thôi, những gói vi sinh mà các nhà khoa học trong đoàn mới mang ra lần này sẽ giúp đảo xanh hơn, nước biển sạch hơn… Xin chào Cái Chiên, Núi Miều, Núi Tụi, Vĩnh Thực. Trên boong tàu, những mái tóc được hất lên nâng cao cái nhìn tới đảo Thoi Xanh. Quần đảo Thanh Lân – Cô Tô với sự thân thương và cảm phục…

Nguồn Văn nghệ số 1+2/2020

Tin liên quan

242 ngày trong tay cướp biển Somali*

Hẳn bạn đọc còn nhớ, gần 10 năm về trước, trên các phương tiện thông tin đại chúng rộ lên một số vụ ...

Thơ tự chọn: Ngọc Bái

Tên khai sinh: Nguyễn Ngọc Bái, sinh năm 1943, tại xã Âu Lâu, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. ...

Thanh Hóa với khát vọng thịnh vượng, phấn đấu trở thành tỉnh kiểu mẫu

Thanh Hóa có lịch sử văn hoá Đông Sơn toả sáng rực rỡ. Suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nư ...

Mưa về long hồ

Mới 8 giờ sáng, Bến Thủy đã vãn khách. Những chiếc quán lưu động được dựng lên ngay đoạn dẫn xuống B ...

Thơ tự chọn: Đỗ Minh Dương

Nhà thơ Đỗ Minh Dương tên thật Đỗ Minh Dơn Sinh năm 1948 tại Thanh Hóa. Hiện sống và làm việc tại ...

Lá rụng trong gió thu

Khi nào thì đất trời nghiêng nghiêng, ấy là khi tuổi đời ta đã nghiêng nghiêng về phía mặt đất, dù ấ ...

Tôi không bỏ được xứ này

Tôi không bỏ được xứ này, cậu à! Câu đó, bà già bán hột vịt ở chợ Đất Mũi nói với tôi nhiều lần, như ...

Thơ tự chọn: Bùi Kim Anh

Bùi Kim Anh giáo viên dạy văn tại Hà Nội đã nghỉ hưu Hội viên HNV Việt Nam ...

Hương núi

Xã Ba Vì (huyện Ba Vì, Hà Nội) là địa phương duy nhất được phong danh “Làng nghề thuốc Nam” ở nước t ...

Ngược đỉnh Pờ Yầu

Làng Pờ Yầu của bà con Bahnar nằm trên địa bàn xã Lơ Pang, huyện Mang Yang cách trung tâm xã Lơ Pang ...

Tiếng hát Khau Co

Một đời lính ngót 50 năm chinh chiến trên khắp các chiến tr­ường trong hai thời kỳ kháng chiến đánh ...

Bộ đội về làng

...Bộ đội về làng là làng sẽ đông vui hơn, sẽ có nhiều lời ca tiếng hát hơn, cho nên lũ trẻ con chún ...