Thèm vô cùng bóng mát khóm cây xanh


 

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn (1944-2015) là gương mặt không phải quá quen thuộc với công chúng thi ca cả nước, nhưng lại khá sinh động với nhiều giai thoại trong một bộ phận độc giả miền Nam. Ngay từ thuở ban đầu nhập cuộc sáng tạo, ông đã tự vẽ chân dung mình: “Trong Nguyễn Bắc Sơn có kẻ làm thơ/ Kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng/ Hoặc nhà tu theo khí hậu từng mùa”. Còn người đọc hôm nay, qua chính thơ Nguyễn Bắc Sơn, có thể phác thảo chân dung ông như thế nào?

Tập thơ tiêu biểu để định danh Nguyễn Bắc Sơn là Chiến tranh Việt Nam và tôi xuất bản trước năm 1975. Đất nước thống nhất, tác phẩm của Nguyễn Bắc Sơn cũng thưa thớt bóng dáng trên thi đàn. Người ta có thể đọc vài câu thơ của Nguyễn Bắc Sơn ở chiếu rượu hay ở bàn trà rồi tấm tắc với nhau, cũng là một giá trị thú vị tôn vinh thi sĩ. Vì vậy, thơ Nguyễn Bắc Sơn có nhiều dị bản. Với mong muốn người yêu thơ được thưởng thức thơ Nguyễn Bắc Sơn một cách đầy đủ khi ông đã qua đời, Công ty văn hóa Huyền Đức đã cùng gia đình biên soạn cuốn Nguyễn Bắc Sơn - Tác phẩm & Dư luận và Nxb Hội Nhà văn đã cho ấn hành tác phẩm này vào tháng 8/2019.

Nếu đánh giá một đời viết, thì Nguyễn Bắc Sơn không phải trường hợp dồi dào bút lực. Những bài thơ có cốt cách nhất, chủ yếu vẫn nằm ở giai đoạn ông 30 tuổi. Nguyễn Bắc Sơn làm thơ như một sự run rủi của định mệnh. Nếu không phải tham gia quân dịch ở chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chưa chắc ông đã thành nhà thơ. Nguyễn Bắc Sơn luôn thể hiện một người thích rong chơi với thiên hạ, hơn là một người ưa suy tư trước trang giấy. Buộc phải cầm súng trở thành lính địa phương, nên Nguyễn Bắc Sơn làm thơ để kể lại nỗi mình éo le: “Chuyện một nhà thơ yêu hòa bình/ nên bị đời cho đi khiêng đạn”. Nguyễn Bắc Sơn có muốn đi lính đâu, nên Nguyễn Bắc Sơn tự trào với vai trò bất đắc dĩ: “Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu/ Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo/ Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo/ Xem cuộc chiến như tai trời ách nước” và Nguyễn Bắc Sơn thảng thốt với chiến trường khói lửa: “Vì sao ta đến đây hò hét/ Học trò bẻ bút tập cầm gươm/ Tập uống máu thay người uống nước/ Múa may theo lịch sử điên cuồng”.

Thơ Nguyễn Bắc Sơn cộng hưởng giữa thể “hành” và thể “tấu”, nên bài dài mới đủ giọng còn bài ngắn thì ngượng ngịu. Ưu điểm của thơ Nguyễn Bắc Sơn thể hiện ở khí chất ngông ngạo và kiêu bạc. Nơi chiến trường khôn lường sinh tử, yếu tố ấy kích hoạt sự chân thành của con người khi đối diện chính bản thân, dù muốn nhận là “Thảo khấu” cũng yếu mềm: “Chiến chinh chinh chiến bao giờ dứt/ Sắt đá ồ sao lại nhớ nhà”.

Chẳng đặng đừng cất bước vào bom đạn hận thù, Nguyễn Bắc Sơn để lại một dấu ấn trong thơ Việt bằng sự tếu táo trẻ trung và sự hoang mang thi sĩ. Nếu như ở bên kia chiến tuyến, Phạm Tiến Duật lãng mạn “đường ra trận mùa này đẹp lắm” còn Hoàng Nhuận Cầm say sưa “nghe chim kể chuyện trên đồi chốt”, thì Nguyễn Bắc Sơn lại cợt đùa: “Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất/ Dừng chân đây nói chuyện tiếu lâm chơi/ Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời/ Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic”. Nói cách khác, Nguyễn Bắc Sơn lấy sự lạc quan chốc lát để xua tan nỗi sợ hãi thường tình…

Trong bài Mật khu Lê Hồng Phong, Nguyễn Bắc Sơn có được những câu thơ viết về chiến tranh mang tính đột phá nhận thức cho độc giả. Thơ viết về chiến tranh thường chia làm hai cực, hoặc hào hùng, hoặc ủy mị. Còn Nguyễn Bắc Sơn phản ánh được sự ngang tàng riêng biệt... Thế nhưng, bên cạnh thái độ xem nhẹ tất thảy, Nguyễn Bắc Sơn cũng nhận diện được mất mát và đau thương của chiến tranh. Từ việc thấm thía “Căn bệnh thời chiến” đầy ám ảnh, Nguyễn Bắc Sơn thèm khát ngày ngưng tiếng súng: “Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt/ Xin giã từ đời vũ khí huy chương/ Xin trở về như một kẻ hoàn lương/ Xin vứt hết xin bắt đầu lại hết

Bằng thơ của mình, người con xứ sở Phan Thiết - Nguyễn Bắc Sơn đã đánh động thanh âm những địa danh vốn âm thầm ở vùng Bình Thuận chói chăng cát nắng như Tà Dôn, Ma Lâm, Thiện Giáo… Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn có khát vọng tồn tại theo tiêu chuẩn “Kẻ làm thơ chính trực/ Là kẻ tặng cho mọi người/ Những gì y có/ Sau cùng còn cái mạng không/ Y tặng nốt cho người y yêu”. Và ông làm thơ như kể chuyện, kể chuyện ngay từ cái tựa. Nguyễn Bắc Sơn kể chuyện “Những năm tâm hồn còn trữ tình điên mê vì thi ca và triết học” trước chiến tranh, Nguyễn Bắc Sơn kể chuyện “Tháng ngày của một người lính làm thơ” trong chiến tranh, rồi Nguyễn Bắc Sơn kể chuyện “Một ngày nhàn rỗi” đi hớt tóc sau chiến tranh. Đó là lối thơ tuân thủ nhịp điệu và âm vận. Mặt khác, thi ảnh trong thơ Nguyễn Bắc Sơn chủ yếu là thực ảnh, chứ không phải ảo ảnh. Thông qua cách kể chuyện, thơ Nguyễn Bắc Sơn tuôn chảy theo sự kiện hoặc theo chi tiết rồi mới bùng lên cảm giác tưng tửng xót xa hoặc lơ đãng nghẹn ngào. Nguyễn Bắc Sơn kể chuyện “Trên đường tới nhà Xuân Hồng” có câu thơ “Trăng mọc đêm nay lạnh chỗ nằm” neo lại những tản mát. Kể chuyện “Tháng chạp sầu đời trên núi cao” trào lộng, nhưng nhờ câu thơ “Tiếng chuông em gõ bên chùa cổ/ Mà sao lạnh điếng cõi sương mù” xóa nhòa sự dung tục! Ngay cả khi Nguyễn Bắc Sơn kể chuyện “Những điều cần nói khi thôi học 1963” cũng xuôi ngược hàng chục câu manh mún trước khi bước vào phần cốt lõi: “Khi ta thôi học/ Ta không biết con người sinh ra để làm gì/ Và ta mải miết/ Đi tìm câu trả lời/ Để sống yên tâm”.

Thơ Nguyễn Bắc Sơn mạnh ở sự phóng túng và sự phiêu bồng, mà không có cấu tứ chặt chẽ để gắn kết mỗi bài. Nguyễn Bắc Sơn khi thong dong viết cái cá nhân thì thấy cái đại cuộc, mà khi hồ hởi viết cái đại cuộc thì không thấy cái cá nhân. Ví dụ, bài thơ có cái tên nghe rất khái quát Ở đời như một nhà thơ Đông Phương thì khá rời rạc. Nguyễn Bắc Sơn bông phèng với thế sự thì thấy số phận, mà Nguyễn Bắc Sơn cố tình triết luận số phận thì chỉ thấy ngổn ngang mớ lý thuyết thế sự, như các bài Thân phận con người, Đại lãn hoặc Cái chết và lòng yêu đời...

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn đã khép lại cuộc đời rong chơi tự tại 71 năm của ông trên nhân gian. Thế hệ sau sẽ còn nhắc ông trong hơi thơ chếnh choáng, và sẽ còn đọc thơ ông để an ủi kiếp người mong manh: “Buổi chiều kia ta thấy mình bé nhỏ/ Thèm vô cùng bóng mát khóm cây xanh”./.

 

     Nguồn Văn nghệ số 39/2019

           

 

Tin liên quan

Tiếng hát của dòng sông

Với tôi, Cà Mau, gắn bó một thời tuổi trẻ. Những ngày đuổi đàn Thòi Lòi, dầm mình trong bùn đất vét ...

Trốn chạy đô thị - khả năng và bi kịch

Đô thị là không gian sinh tồn của con người, là “điểm nóng” có sức hút dân cư rất lớn, nhưng lại khô ...

Một tiếng thơ chan chứa tự hào và sâu nặng ân tình với Đảng

​Trong quyển Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 1997, nhà thơ Tố Hữu đã tự bạch: “ ...

GẶP LẠI NHỮNG BÍ MẬT CỦA TẾT…

Vậy là chưa đầy tháng nữa, Tết sẽ đến. Khi đất trời giao hòa, cũng là lúc mọi thứ ồn ào, tranh cãi, ...

Sức hấp dẫn của một cuốn tiểu thuyết

Khi tôi chuẩn bị viết về tiểu thuyết Nậm Ngặt mây trắng của Nguyễn Hùng Sơn, một anh bạn nhà văn đã ...

Trăn trở cùng sông quê

Sông Quê tập hợp chín truyện của Trần Mạnh Hùng viết đề tài nông thôn, chỉ có ba truyện: Cây Đàn Tam ...

Những cuộc tình có đủ nụ cười và nước mắt

Do ngẫu hứng, tôi đọc Mặt trời và những cơn mưa bằng cách đọc khá kỳ cục, thông thường người ta lần ...

Tính dự báo của văn chương – thế nào, tại sao?

Người cực đoan thì khó lòng khách quan trong mọi trường hợp. Bảo, các cụ xưa nói, cấm câu nào sai. T ...

“Thơ chống Mỹ” và mấy suy nghĩ về xây dựng đội ngũ tác giả kế tục

​Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam ra đã sản sinh ra thế hệ “nhà văn chống Mỹ” ...

Phê bình văn nghệ có còn không?

Mấy chục năm qua, phê bình luôn luôn được coi là khâu yếu nhất của nền văn nghệ. Nhẹ thì cũng là chư ...

Một cánh cửa vào cõi vô biên

​Có thể nói, đề tài chiến tranh không còn mới nữa, vì người ta viết rất nhiều rồi. Đặc biệt, hình ản ...

Căn tính dân tộc và toàn cầu hóa trong sáng tạo văn học

Văn hóa các dân tộc vốn rất đa dạng, thậm chí khác biệt. Trong kỉ nguyên toàn cầu hóa, có hai xu hướ ...