Thao thức nhớ Cô Lin


Những ngày cả nước đang hướng về Trường Sa với niềm đau đáu khi một phần thiêng liêng của đất Việt đang bị xâm lấn, tôi lại nhớ về Cô Lin với biết bao cảm phục và rưng rưng niềm thương mến. Bởi dẫu hải trình dài 10 ngày trong mùa hè năm ấy có bao chuyện buồn vui đối với đoàn công tác của Hội Nhà văn Việt Nam, thì Cô Lin như một dấu chấm lặng với bờ kè trắng lóa hoa sóng. Đến tận bây giờ, sau nhiều năm, tôi vẫn nhớ như in hình ảnh điểm đảo chỉ nhỏ như một vết chấm trên bản đồ song đã đi vào lịch sử nước nhà bằng những chiến công bi tráng hiện lên trước mặt tôi với màu tường sơn vàng và những đôi tay lính ánh màu đồng vẫy gọi trong nắng.

Trước khi tiến vào Cô Lin, tàu của chúng tôi dừng lại tại vùng biển Gạc Ma để làm lễ tưởng niệm các liệt sĩ đã hi sinh trong chiến dịch bảo vệ chủ quyền năm 1988.  26 năm trước, cái tam giác Cô Lin - Len Đao - Gạc Ma ấy đã trở thành “tam giác máu”, là bằng chứng cho sự bội tín của những người đồng chí phương Bắc. Nhưng vượt qua chừng ấy năm, nỗi đau không hề nguôi và vùng biển mang tên “tam giác máu” năm nào vẫn luôn là “tam giác lửa”, vẫn còn nguyên sự căng thẳng, trạng thái báo động sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển - đảo của hải quân Việt Nam trước những hành động hung hăng, khiêu khích của lính Trung Quốc ở điểm Gạc Ma ngay bên cạnh.

Vùng biển này còn có một tên gọi buốt xói khác là “nghĩa trang máu” do những người lính hải quân đặt. Khi tàu HQ996 thả neo, nhất loạt những con tàu phòng hộ tên lửa mang tên Giang Vệ thuộc hạm đội Nam Hải, Đông Hải của Trung Quốc nhất loạt quay mũi về phía chúng tôi nửa như hăm dọa, nửa như dè chừng. Trung úy Tiến Minh - chiến sĩ lái xuồng CQ (xuồng chủ quyền) trên tàu HQ996 nói với tôi rằng, những vòng hoa thả xuống biển luôn trôi về Gạc Ma, lính Trung Quốc vẫn thường cho xuồng xa vớt để hoa không dạt vào chân đảo. Mặc dù Minh cũng lí giải rằng đó là do dòng biển, song trong thâm tâm, tôi vẫn tin rằng anh linh 64 người lính đã nằm lại “tam giác lửa” này đã dìu hoa về phương ấy, dìu về nơi máu thịt của Trường Sa.

Gọi là đảo cho oai, chứ thực ra trông Cô Lin chỉ như một chiếc lô cốt lớn có 3 tầng nằm chơ vơ giữa bốn bề sóng cả. Tôi từng nghe thiếu tướng Hoàng Kiền – nguyên Tư lệnh công binh kể lại rằng, những năm 88, 90, đảo chìm Cô Lin chỉ là dải cát san hô dài dăm bảy trăm mét mỗi khi nước cạn, có dạng một hình tam giác nhưng cạnh hơi cong. Còn khi triều dâng thì hoàn toàn mất dấu dưới làn nước xanh. Các chiến sĩ của ta phải dựng những lều cao cẳng để ở và giữ đảo. Khi bắt tay xây dựng, anh em phải dầm mình trong nước mặn để quây lưới thép, xếp đá thành nền rồi mới xây nhà bên trên. Thép để xây dựng Cô Lin cũng như các điểm đảo chìm khác đều phải mạ kẽm. Còn bản lề, đinh, khoá đều phải làm bằng inox thì mới có thể chống chọi được với sự ô xi hóa và nhiễm mặn.

Với giọng nói của dân Nam bộ, đại úy Trương Hồng Phượng, chỉ huy đảo Cô Lin đưa chúng tôi đi thăm đảo. Anh cho biết, năm nào, phía Gạc Ma cũng tiến hành từ hai đến ba đợt diễn tập đổ bộ có sự phối hợp của máy bay và tàu chiến hiện đại. Các tàu vận tải đường biển, tàu phòng hộ tên lửa, hải giám, hải tuần, ngư chính, kiểm ngư cũng thường xuyên đi tuần đến Gạc Ma không theo một quy luật nào. Hẳn đó là một trong những lí do mà  26 năm qua, cùng với Len Đao, Cô Lin đêm nào cũng thức, những người lính Cô Lin đêm nào cũng chong mắt dõi biển xa, ngón tay luôn áp trên cò súng.

Là đảo cấp 3 với bãi đá ngầm dựng đứng nên việc di chuyển để vào đảo rất khó khăn, ngay cả lương thực, thực phẩm, nước ngọt cũng hoàn toàn trông chờ vào những chuyến tàu chuyển hàng ra đảo.Thức ăn chủ yếu là đồ hộp, đồ khô và đồ đông lạnh, bữa cơm mỗi ngày anh nuôi chỉ dám hái chút ít để nấu bát canh “toàn quốc” (nghĩa là canh toàn nước là chính). Dẫu phía sát ngoài rìa của thềm san hô có nhiều loài cá quý như chim, thu, ngừ và một số loài hải sâm song do kỉ luật quân đội, anh em không được đánh bắt mà chỉ có thể tranh thủ nhặt những chú cá nhỏ mắc cạn ngay rìa đảo. Còn rau thì phải trồng tận dụng trong những hộp xốp, thùng cót ép, thùng đạn gỗ… Những năm gần đây, bằng sự mưu trí, dũng cảm,vượt khó, cán bộ, chiến sĩ trên đảo Cô Lin đã tự túc được nước bằng nguồn nước mưa, là một trong những đảo chìm có trữ lượng nước dự trữ  nhiều nhất trên quần đảo Trường Sa. Còn rau thì liệu có phải nhờ mồ hôi lính đảo mà lớn chăng mà hàng năm, sản lượng rau tăng gia của đảo đạt hơn 800kg. Đại úy Phượng nói rất chắc chắn: “Hoạt động tăng gia sản xuất không chỉ có ý nghĩa là tạo nguồn thực phẩm tươi sống, giàu dinh dưỡng mà còn góp phần làm phong phú đời sống của cán bộ, chiến sĩ trên đảo”.

Lọ mọ một mình ra phía sau đảo, tôi được một tiểu đội chó chào mừng bằng một dàn đồng ca gâu gâu… Căn bếp của lính tuềnh toàng với những mâm, nồi, bát quân dụng đã ít nhiều móp méo. Lại thấy cả một lô vỏ đồ hộp các loại đã được rửa sạch, mài nhẵn giấu sau đám rổ rá. Sứ - cậu chiến sĩ trẻ măng người Bình Thuận vội chạy lại mời tôi lên tầng, ngượng nghịu nhìn chiếc vỏ hộp dưa chuột muối tôi cầm trên tay rồi giải thích: “Vỏ lon này dùng để hứng nước mưa chị ạ. Còn những vỏ hộp nhỏ hơn thì dành để làm dây báo động. Bọn em giấu đi để khách không nhìn thấy, rồi lại thương lính khổ”.

Ôi, đã thiếu thốn, gian khó đến bao nhiêu mà còn phải giấu vì sợ khách buồn. Điều em nói khiến tôi cay lòng mắt, ở tuổi em, em trai tôi còn đang vùi đầu vào những trận Gameonline thâu đêm suốt sáng, còn Sứ thì đã quá dạn dày mưa nắng, dạn dày với hiểm nguy rình rập ở Trường Sa. Rồi tôi lại bắt gặp một chiếc vỏ đồ hộp khác ngay tại giường cá nhân của Sứ. Em dùng nó để chế một cây đèn bàn có thành phần kết cấu bao gồm: thân đèn là một chiếc chân quạt hỏng, chụp đèn là vỏ đồ hộp, được bao thêm một mảnh báo, công tắc đèn là một chiếc công tắc nhựa bình thường, được nhét vào phần lõm trước đây từng là núm vặn của chiếc quạt kia. Nhờ chiếc đèn này, các buổi tối, Sứ có thể đọc báo, ghi sổ sách nội vụ và cả … làm thơ mà không phiền đến các đồng đội khác. Về đất liền, tôi quyết tâm gửi ra tặng Sứ một chiếc đèn bàn, rồi lại thôi. Vì nghĩ, chỉ còn 6 tháng nữa là em xuất ngũ, hãy để cho chiếc đèn độc đáo đó ở bên em, là người bạn đồng hành cùng những trang thơ của em trong những năm tháng “tráng niên đại mộng” thật đẹp ở Trường Sa.

Trên tàu, chúng tôi đã được dặn rằng, các đảo chìm rất hiếm nước nên khách ra đảo cần tiết kiệm. Đến Cô Lin, thiếu úy Nguyễn Hữu Thủy rót mời tôi một cốc nước lọc rất đầy. Thấy tôi có vẻ ái ngại, Thủy hiểu ý rất nhanh và bảo: ‎“Mấy bữa trước trời mưa, bọn em bịt cả giao thông hào, lô cốt và đặt ống bơ để hứng nước nên hiện đảo nhiều nước lắm. Chị đừng ngại”. Lính đảo là thế đấy, dẫu còn thiếu thốn thật nhiều nhưng tấm lòng lại rộng rãi như biển cả. Và tôi đã uống hết cốc nước mưa chắt chiu từ những đám mây biển nơi đây.  

Những ngày chúng tôi ở Trường Sa, cũng là những ngày Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực biển Hoàng Sa. Hành động đáng xấu hổ đó chẳng khác gì mang dao cứa vào da thịt mẹ Tổ quốc ta, hòng cắt lìa đứa con Hoàng Sa dẫu 40 năm nay lưu lạc nhưng chưa lúc nào nguôi thương nhớ. Tôi thoáng bắt gặp những khoảnh khắc ưu tư trên gương mặt những người lính hải quân. Tại các điểm đảo chúng tôi ghé thăm, từ bộ đội hải quân cho đến bộ đội rađa, không quân; bộ phận nhà đèn, khí tượng đến các hộ dân trên đảo… đâu đâu cũng tràn ngập không khí khẩn trương, tất bật. Đoàn công tác chúng tôi phải di chuyển nhiều hơn, khẩn trương hơn và hầu như không được ngủ đêm tại một số đảo như thường lệ. Sau mới biết nguyên do là bởi anh em trên các đảo phải chuẩn bị đón hàng trăm đồng đội từ đất liền có nhiệm vụ ra hiệp đồng diễn tập phòng thủ đảo đang chờ trên những chiến hạm đậu cách đó không xa.

Ở Cô Lin cũng vậy, thời điểm chúng tôi lên đảo, ở bãi Gạc Ma, Trung Quốc đã điều gần 200 tàu vận tải đường biển cỡ lớn để phục vụ cho việc thay đổi hiện trạng trên bãi đá san hô này. Ngoài ra còn có 10 tàu phòng hộ tên lửa Giang Vệ thường xuyên tuần hành xung quanh vùng biển Gạc Ma. Đặc biệt là còn có tàu nạo vét Thiên Kình với các trang thiết bị bào vét hiện đại, có thể đào sâu đến 30m với công xuất khoan 4.000kw và công suất nạo vét là 4.500m3/g. Có thể thấy dã tâm của Trung Quốc là rất lớn, họ không chỉ chiếm giữ trái phép một phần lãnh thổ của Việt Nam mà còn muốn thay đổi hiện trạng của những bãi đá san hô, biến Gạc Ma cùng Chữ Thập trở thành những đảo nhân tạo để từ đó đưa ra những yêu sách về chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với khu vực quần đảo Trường Sa nói riêng và khu vực mà Trung Quốc gọi là đường chín đoạn nói chung. Có thể thấy rất rõ tham vọng của họ là thôn tính Hoàng Sa, Trường Sa và độc chiếm biển Đông.

Những người lính ở Cô Lin chia sẻ rằng, vùng biển này là nơi tập trung rất đông tàu thuyền các nước đến đánh bắt hải sản. Nhất là các loại tàu của Trung Quốc nửa như tàu cá đơn thuần, nửa như do thám, rình rập và chỉ chực chúng ta sơ hở là cắn trộm. Anh em rất sôi nổi, đanh thép chỉ thẳng “tàu Trung Quốc”, “tàu Philippin”; “tàu Mã Lai”… chứ không lòng vòng ám chỉ “tàu lạ, tàu nước ngoài”.  Một chiến sĩ chỉ cho tôi thấy một chiếc tàu khá to đang đánh cá ở phía xa, phải nhìn qua ống nhòm mới thấy được lờ mờ mấy chữ tượng hình và bảo “Tàu cá Trung Quốc đấy. Chiếc tàu kia là tàu mẹ, trên đó có cả chục tàu con. Mẹ con chúng cõng nhau đến đây rồi thả cho bọn tàu con xuống đánh cá, cuối ngày lại về tàu mẹ và đi chuyển đi chỗ khác. Bọn này rất hung hăng, hiếu chiến, chúng sẵn sàng va chạm, gây hấn với tàu cá của ngư dân ta để giành ngư trường. Khi yếu thế thì lại chạy tót về tàu mẹ để cậy to bắt nạt tàu nhỏ hơn”. Thượng úy Nguyễn Văn Ba – chính trị viên đảo Cô Lin nói khẽ: “Làm nhiệm vụ ở Cô Lin, chúng tôi xác định không được phép lơ là mất cảnh giác, không được phép ngủ say, dù ban ngày hay ban đêm!”. Có thể nói, tinh thần sẵn sàng chiến đấu và độc lập tác chiến, sẵn sàng hi sinh của những người lính ở đây rất cao.

Giữa lúc chủ, khách tất bật thăm hỏi, tặng quà và giao lưu văn nghệ, thì trên chốt canh cao nhất đảo chìm Cô Lin có một người chiến sĩ cứ dán mắt vào chiếc ống nhòm nhìn ra bốn phía biển. Thượng tá Toàn, trợ lí tác chiến của Hải quân vùng 4 từng kể rằng, trên vọng gác tại các đảo chìm ở Trường Sa, thường được các chiến sĩ giăng những sợi dây ni lông có treo hàng chục chiếc ống bơ vỏ đồ hộp. Người lính nào trong ca gác của mình cũng phải nắm một đầu sợi dây đó. Việc làm này xuất phát từ một lí do rất nghiệt ngã là, nếu người lính trực bị kẻ địch bắn tỉa bằng súng giảm thanh giữa đêm tối để xâm nhập đảo, thì ngón tay anh vẫn kịp kéo dây để hàng chục chiếc ống bơ nhất loạt kêu vang, kịp thời báo động cho đồng đội phía dưới. Trót nhận nhiệm vụ làm MC cho phần giao lưu văn nghệ giữa chiến sĩ Cô Lin và đội văn nghệ xung kích của đoàn công tác nên tôi không kịp trèo lên vọng gác, chỉ có thể nhìn thấy nụ cười hiền như hoa phong ba trên gương mặt đầy nắng của chiến sĩ trên vọng gác. Có lẽ tay em cũng đang giữ một chiếc dây như thế.

Xuống xuồng CQ để rời đảo, cứ ân hận mãi vì đã không tranh thủ trèo lên chốt gác. Nhớ đến đống vỏ đồ hộp nơi góc bếp, lại xót xa thầm nghĩ, chẳng ngờ những vật dụng trong đất liền tưởng như đồ phế phẩm lại có vai trò quan trọng trong đời sống chiến đấu của anh em đến vậy. Vỏ dùng để hứng nước mưa, dùng để làm chụp đèn, dùng để trồng rau và thậm chí là để… báo động sẵn sàng chiến đấu. Ôi những chiếc vỏ hộp và những người lính biển của tôi!

Ngay lúc viết bài này, tôi gọi điện hỏi thăm anh em đang đóng quân tại Trường Sa. Chưa kịp động viên, các anh đã bảo: “Mọi việc ngoài này vẫn bình thường, nhà thơ yên tâm. Anh em luôn xác định tinh thần và sẽ chủ động ứng phó với mọi tình huống. Mọi người cần hết sức bình tĩnh. Đất liền có bình yên thì anh em chúng tôi ngoài biển mới có thể mạnh được”.

Nhớ Cô Lin, là thao thiết nhớ đến đống vỏ đồ hộp nơi góc bếp… Nhớ Cô Lin, vì biết những ngày này biển Cô Lin  không ngủ. Và những chiến sĩ trên đảo nhỏ xa xôi ấy đang đêm ngày chong mắt dõi bốn phương tám hướng, quyết giữ từng hòn đá mồ côi, từng cánh chim biển, từng rạn san hô trước mưu đồ xâm chiếm của những kẻ tham lam. Nhớ Cô Lin, vì tin Tổ quốc sẽ bình yên, đảo sẽ vẹn toàn! Bởi những người lính Cô Lin, những người lính Trường Sa đã nguyện “còn người, còn đảo, còn Tổ quốc”.

Nguồn Văn nghệ số 19/2020

Tin liên quan

Nơi biển Hồng Vàn

Tôi ra Cô Tô từ mùa hè năm 2005, đến nay vừa trọn 15 năm. Lần ấy, tôi ra đảo dự lễ Kỷ niệm 50 năm ng ...

Đà Nẵng quyết tâm vượt qua đại dịch

Không biết có phải lịch sử đã chọn Đà Nẵng để thử thách hay không, khi nơi đây, thực dân Pháp, đế qu ...

Ký ức một thời

Tám giờ sáng! Từng người xuống tàu. Nhiều người mang vác theo những bọc hàng hóa cồng kềnh. Từ chợ S ...

Thơ tự chọn: Phan Huyền Thư

Thơ tự chọn: Phan Huyền Thư ...

Thơ tự chọn: Thanh Thảo

Thơ tự chọn: Thanh Thảo ...

Thơ tự chọn: Nguyễn Xuân Thâm

Thơ tự chọn: Nguyễn Xuân Thâm ...

Thơ tự chọn: Hữu Thỉnh

Thơ tự chọn: Hữu Thỉnh ...

Ký ức miền Tây

Tiếng sáo vang vọng núi rừng: Đêm qua sao lượn vòng đổi chỗ/ Ngày đã rạng, lối đi sáng tỏ/ Ta theo n ...

Con người và bài học ứng xử với thiên nhiên

Bạn thấy biển đẹp bất kỳ thời khắc nào, mùa nào, bởi lúc ấy biển và những “chất liệu”, “phụ vật” chu ...

Sáu giây định mệnh

Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ngụ, sinh năm 1933, thôn Triều Đông, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉ ...

Những hạt ngọc đáng trân trọng

Được là con dân xứ Vĩnh Lại xưa, nay mang tên Vĩnh Bảo, quê cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với một ...

TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG VIẾT VĂN NGUYỄN DU - HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM MỞ LỚP BỒI DƯỠNG VIẾT VĂN KHÓA 14 NĂM 2020

Thực hiện chỉ đạo của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du của ...