"Đã chót yêu thơ rồi... không bỏ được"


 

Tên Ninh, lót Ngọc, họ Lê. Lê Ngọc Ninh là họ tên thật cuộc đời. Ông lấy bút danh là... Ngọc Lê Ninh. Nghe kể: Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm chọn bút danh này bằng cách đảo trật tự từ của cái tên thật. Lứa sinh viên cuối những năm 80 đầu những năm 90 thế kỉ trước vẫn nhớ một thời sôi nổi bập bùng ngọn lửa đêm lửa trại. Có thể hình ảnh chàng trai đeo kính cận đi bên, hoặc ngồi sau Hoàng Nhuận Cầm, và những bài thơ của Ninh thỉnh thoảng được giới thiệu lên đọc ké chẳng còn ai nhớ, nhưng thi phẩm “Thơ thời mở cửa” thì vẫn không quên.

Nhà thơ Robert Frost bốn lần được Giải Pulitzer nghĩ về thể loại văn học, mà ông tình thâm theo đuổi có phần kỳ bí, dường như theo một lô gic trật tự: “Thơ ra đời khi cảm xúc đã tìm thấy suy nghĩ của mình và suy nghĩ thì đã tìm ra lời để diễn đạt chúng”. Cảm về người chết, đồi cao vực sâu, mộ phần... thì không lạ thậm chí rất bình thường với thế hệ nhà thơ ra trận, nhưng ưu tư về điêu tàn mất mát của chàng trai Ngọc Lê Ninh đang tuổi hai mươi là quá sớm: “Tôi nằm nghe đớn đau/ Của bao người đã chết/ Nơi đồi cao vực sâu/ Mộ phần chưa ai biết/ Tôi nằm nghe đói rét/ Trong cuộc chiến điêu tàn/ Rưng rưng dòng ly biệt/ Rơi đau ngày bình yên”. Ngọc Lê Ninh tuổi 23 mà như người đã trung niên bồi hồi nhớ bạn không qua khỏi cuộc chiến, xót xa thân phận nhỏ nhoi, vô nghĩa của con người. Cảm hứng đau thương bắt gặp tính nhân đạo, thơ lên tiếng nói hộ cho nỗi lòng. Sự chân thành của ông thay cho những lời hoa mỹ, và sự mộc mạc dễ thương thay cho lao động nghề: “Thương anh người trúng đạn. Thương Mẹ đợi trắng đầu/ Thương người chui đất bạn/ Khóc than cùng biển sâu”. (Thơ mở cửa – 1992).

Có thể nói áng thơ thế sự này đánh dấu sự tài hoa với cảm xúc, nội lực nhập cuộc thành trường liên trưởng, nghĩ ngợi sâu, cộng hưởng thành lối nói giản dị. Giản dị nói về cái chết, về mất mát bao giờ cũng thuyết phục hơn là kỹ thuật kì khu đẽo chữ, gọt câu. Tuy nhiên, thường là tuổi tác càng nhiều thì người ta càng nghĩ ngợi hơn về cuộc đời, cuộc sống, về kiếp người...; nhưng Ngọc Lê Ninh càng đi qua thời gian thì càng xa lánh thế sự. Có thể nói bài thơ  “Thơ mở cửa” như một ánh sao băng lóe sáng không phải để báo hiệu một dòng thơ thế sự dào dạt chảy mãi, mà... ngưng lại luôn? Cảm hứng hồn tình, thơ tình lãng mạn đã lấn át, đè bẹp dòng cảm hứng thơ hiện thực của Ngọc Lê Ninh.

*

Không biết Ngọc Lê Ninh bắt đầu cất tiếng thơ từ bao giờ?

Lúc lên 6 tuổi đã biết nghêu ngao câu đồng dao theo cánh cò trắng chấp chới trên ngọn tre xanh. Lên 10 tuổi đã thẫn thờ qua ô cửa lớp học nhìn con bướm vàng nhẹ nhàng đáp xuống cụm thường xuân. Ông làm thơ và phổ biến thơ rất sớm, ở độ tuổi 20 đã có tiếng trong giới học đường: “...sông hờ hững trôi về đâu?” mà vô tình với nỗi đau “đê sụt vỡ”, vô tình với cái sự mong manh “cỏ non run rẩy buốt thân đê”. Nói về con đê và dòng sông, nhưng thực ra lại nói về mối tình đầu mất mát se thắt lòng. Sông Nhà Lê, sông Lạng Bạch, sông Cầu Đồi... là hình ảnh, ký ức trong trẻo xưa cũ đeo bám Ngọc Lê Ninh; đôi khi người đọc bắt gặp tâm tình, bóng dáng của tình yêu đầu đời trách móc, dỗi hờn: “Có những mùa cháy khát nắng về/ Đê nứt nẻ bên dòng dông đầy nước/ Sông có hiểu cho lòng đê sao được/ Cứ vô tình mang nước đổ biển khơi”. Yêu rất sớm và làm thơ tình cũng sớm. Chia tay rất nhanh và trách móc cũng nhiều. Đó là cái thói yêu của người trẻ khi chưa đủ độ từng trải, nghĩ ngợi, chỉ thấy mình đúng, người kia sai. Thất tình là chuyện riêng tư của Ninh hoặc ai đó, nhưng thơ tình của ông thì lại gặp gỡ cái mẫu số chung tình người, ai đọc cũng có thể soi thấy ít nhất là một góc tâm trạng, một điểm nhìn tình yêu.

Tâm trạng nhiều bao giờ cũng cảm xúc lớn và sâu. Các áng thơ “Tình yêu nháp”, “Khi tình yêu vùng dậy”, “Đồng nội”, “Con đê và dòng sông”... ào ạt tràn ra trên trang giấy học trò như không có gì kìm hãm nổi. Tình yêu của Ngọc Lê Ninh khi lặng thầm, khi cuống quýt, trỗi dậy, vùng dậy: “Đêm vỡ tan thành ngày/ Gió vùng vằng đôi tay/ Cuống cuồng ngàn lá đổ/ Hì hục con sóng vỗ/ Đứt mình hòn đá trôi”...Phồn sinh chứ không phải phồn thực: “Trăng chạy trốn qua đồi/ Hai ta còn nóng hổi” (Khi tình yêu vùng dậy - 1989). “Tình yêu nháp” có cái tứ lạ. Xưa ngay người ta hay nói đến sống thử, yêu thử, ngủ thử, lấy thử..., Ngọc Lê Ninh lại có cái nghĩ ngợi bằng cái tứ thơ rất lạ... yêu nháp: “Anh lại nháp vào đời em gái khác/ Đau đớn thay ai đã nháp mất rồi”, và: “Tình yêu nháp thực hư không ai biết/ Cứ vô tư trú ngụ giữa bao người. (Tình yêu nháp – 1992). Người ta nói đàn ông chỉ cần ba thứ: sức khỏe, sự nghiệp và tình yêu. Ngọc Lê Ninh sức khỏe đàn ông tốt, sự nghiệp có thừa, còn tình yêu có hay không, nhiều hay ít, lãng mạn hay trần tục? “Tôi ăn chay tình yêu/ Đời thiếu em nhạt thếch” (Tình chay – 1991)”. Cái cách cảm thán thế này làm người đọc hư hư thực thực, chẳng hiểu tác giả ăn chay tình yêu, hay nói hộ cánh đàn ông nhạt nhẽo vì cuộc đời thiếu hồng nhan yêu thương tri kỉ?

Ngọc Lê Ninh yêu đam mê nhưng không phải là thứ tình yêu học trò mộng mơ, thoắt vui đẹp lộng lẫy như đám mây ngũ sắc trên đầu, thoắt buồn như cơn gió bấc mưa phùn đầu mùa đông. Yêu, và có những khoảnh khắc âu lo, và nỗi sợ. Trong các loại nợ nần, thì nợ tiền bạc trả được, nợ tình cảm khó trả lắm, đong đếm như thế nào cho vừa. “Em ơi anh sợ/ Món nợ tuổi thơ/ Ra ngõ tình cờ/ Em cho cái kẹo” và “Món nợ thời trai/ Tình vay cắm mãi” với “Món nợ tuổi già/ Tính đã đi xa”(Nợ - 1992). Sợ cái nợ nần của nhau. Nợ tuổi thơ. Nợ cái hôn vụng trộm tuổi học trò. Nợ cái sợ vay mượn tình yêu thời trai trẻ. Cái sợ nhất là nợ nần tình cảm chứ không phải nợ tiền bạc, vật chất. Người trưởng thành thì cách yêu và nghĩ ngợi về yêu cũng trưởng thành. Có ba trường đoạn buồn day dứt của Ngọc Lê Ninh được đánh dấu bằng ba cột mốc: “Cây bàng thương nhớ”, “Tình chay”, “Khóc dọc thời gian”. Ấy là thời gian lòng thi sĩ không bóng hồng nào, sống đời trai chay tịnh, mà vẫn chưa thoát khỏi hồn trần tục lụy.

*

Cũng giống như nhiều người trẻ yêu thơ, làm thơ khác: Cơm áo gạo tiền đôi khi đè nặng lên vai đến nghẹt thở, còn thơ thì vẫn ở phía trước mông lung, xa vời. Mưu sinh “không đùa với khách thơ” khi nhuận bút một bài thơ không mua nổi bát phở bình dân, thì người say đắm thơ bao nhiêu cũng không thể ăn bánh mì với uống nước lã mà làm thơ mãi, phải có cái suy tư chín chắn về nó. Bỏ! Ngọc Lê Ninh làm thơ, in thơ hăm hở bao nhiêu thì bỏ nàng thơ nhanh bấy nhiêu. Bỏ bẵng hơn 20 năm không phải phụ bạc mà là... chạy trốn. Cuộc đời cứ cuốn ông đi với chuyện cơm áo gạo tiền, và danh tiếng khoa học mùa vàng rực rỡ còn... văn thơ thì thất bát.

Nhưng, đánh đùng một cái, bạn bè thấy ông trở lại với nàng thơ. Đúng là “tình cũ không rủ cũng đến”. Ngọc Lê Ninh bảo: “Tôi đã chót yêu thơ rồi... không bỏ được!”. Một năm 2016 ông in 27 bài thơ, còn làm bao nhiêu bài chưa công bố nữa? Cảm hứng thế sự tưởng như đứt đoạn lại trở về mênh mang: “Thành phố mùa bia”, “Bút trầm ngâm", “Thơ mất ngủ”, “Mênh mông miền trung”,  “Hồn Thiên tạo”... đầy suy tư nghĩ ngợi về thời đại, về số phận con người; hay cái nhìn trong trẻo với ánh mắt trẻ thơ “Gió xuân”, “Quả thơ”; hoặc cảm hứng thiên hà mênh mông “Lời ru vũ trụ”... đã làm cho thơ Ngọc Lê Ninh phong phú, đa dạng cả vấn đề phản ánh và cách nhìn hiện thực đầy ưu tư thế cuộc. Đêm đêm anh giáo nghèo thức soạn bài đói quay quắt, và khi chạy chợ buôn quần áo, ước mơ mua lọ nước hoa Pháp cho người tình cũng xa vời: “Tôi cầm bút trầm ngâm/ Nhà chạy ăn từng bữa/ Nàng thơ khóc âm thầm... (Bút trầm ngâm – 2016). Thao thức giày vò: “Đêm mất ngủ bên dòng sông đầy nước/ Hồn sóng kia lưu lạc ở phương nào/ Nghe cát sỏi đầu thai vào kiếp khác/ mất sông rồi, tôi khóc vỡ chiêm bao” (Thơ mất ngủ - 2017). Lại có khi thăm thẳm: “Ngày xanh rơi, đá rụt vào bóng tối/ Dung nham tim tắt lạnh đáy tâm hồn”. Tâm trạng buồn hoang hoải: “Ai đốt rừng xanh mù mịt khói?/ Tuổi cây tàn trong mắt thú lệ rơi” (Hồn Thiên Tạo – 2017). Không khó nhận ra tình cảm riêng tư trộn lẫn hòa cùng nỗi buồn mất mát của dân tộc: “Đất nước mình đi qua chiến tranh/ Những trận đánh làm rừng sâu mất ngủ/ Những trận đánh xé toang thành quách cổ/ Nghe máu văng nhuộm tím cả trời chiều”( Chưa thể đặt tên – 2016). Ý thức công dân của nhà thơ đôi khi chen lấn, đè bẹp tình riêng.

Dù có những băn khoăn triết lý nhân sinh, và nỗi buồn kiếp người, nhưng thơ tình vẫn da diết, cái tình mênh mông “thư viện lưu không hết nổi”, hay là nỗi giày vò tiếc nuối: “Ta nhớ mãi lỗi lầm trong mưa bão/ Làm buồn đau sạt lở những ngày xanh”. Cảm hứng về cái mất vẫn kéo dài. Sợ mất. Lo mất. Và ngay cả khi đang đỉnh điểm hạnh phúc yêu nồng nàn thì cảm giác “mất” lại càng xuất hiện. Giả định mất với những tình huống “nếu” cứ lặp đi lặp lại: “nếu đánh mất tình yêu”, rồi “em bước bên chồng không ngoái lại” (Hồn anh – Ngọn gió – 2016) hoặc “nếu em không còn anh/... Đá thở dài câm lặng/ Lá buồn rơi trơ cành” (Khi tình yêu gặp hạn – 2016). Tình yêu không còn đam mê mơ mộng nữa mà mạnh mẽ, quyết liệt, dữ dội, trực diện: “Mắt em là viên đạn/  Đầu mang hình trái tim/ Bờ mi như giàn súng/ Chĩa vào anh lặng im”, rồi “ Vèo! Vèo! Xuyên qua tim/ Nghe máu phun rạo rực” (Viên đạn tình yêu – 2016). Một cách thể hiện tình yêu qua thơ rất khác biệt.

*

Trước trang giấy và ánh đèn đêm, Ngọc Lê Ninh là người hay suy tư nghề nghiệp với chuyện mưu sinh cuộc sống. Ông luôn đặt ra những câu hỏi rồi tự trả lời mà chẳng lần nào thỏa đáng, vừa lòng: “Nhà cửa như ổ chuột/ Thơ in chỉ làm quà”. Nghi vấn nghẹn lòng, đi tìm lời giải: “Đêm nay từng con chữ/ Bò trên giấy nghẹn ngào/ Thơ nằm như tắt thở/ Đời mình sẽ ra sao?” (Thơ mở cửa – 1992). Trong lao động nghệ thuật, nhà thơ Ngọc Lê Ninh rất có ý thức lạ hóa ngôn ngữ. Đó là bản chất của người sáng tạo luôn đi tìm cái mới, cái lạ, cái không thông thường: Tình chay. Yêu nháp. Rubic yêu. Sương ngửi mặt sông. Hoàng hôn hôn sóng. Bước chân cò vỡ hoàng hôn. Tiếng cuộc giục chiều rơi. Ngóng mắt tre non. Chiều run chiếc lá xa cành. Quá bước lạc hồn quê. Trăng lạnh cóng sao. Cô đơn liếm mặt tường...vv... là những khái niệm, hình ảnh, những cụm từ rất thơ và cũng rất đời, song không giống ai, đó cũng là một trong các yếu tố làm nên gương mặt thơ riêng Ngọc Lê Ninh.

Tác giả Lê Ngọc Ninh (trái)

Nguồn Văn nghệ số 26/2018

Tin liên quan

Cảm nhận bài thơ Mẹ tôi chửi kẻ trộm

Ở tỉnh lẻ báo chí về muộn, mãi đến gần đây thấy trên mạng facebook có nhiều ý kiến khác nhau về bài ...

Hoàng Nhuận Cầm – giọng thơ giầu cảm xúc

Sau sự ra đi của nhà văn nổi tiếng Nguyễn Huy Thiệp, làng văn lại bất ngờ nhận thêm một tin buồn, Nh ...

“Bánh" fantasy, sci-fi có dễ làm?

Cuối cùng thì như ý kiến của đại diện các đơn vị xuất bản, vấn đề mấu chốt vẫn là câu chuyện chất lư ...

Đọc sách để tạo ra những giá trị nghệ thuật mới

Là người viết, nhưng nhà văn cũng là người đọc. Nhân Ngày sách Việt Nam 21-4, tôn vinh sách, chúng t ...

Văn học về chiến tranh cách mạng: Nhiều nhưng chưa đủ

Hội Nhà văn TPHCM vừa kết hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tây Ninh tổ chức tọa đàm “Nhà văn sống ...

Fantasy, sci-fi Việt: Các “bà đỡ” lên tiếng*

Theo nhìn nhận từ một số đơn vị làm sách, dù đã có nhiều nỗ lực nhưng bản thảo văn học fantasy, sci- ...

Và bạn đời của thi nhân là sự cô đơn*

Đây là một tuyển thơ đầy đặn gồm 415 trang, bìa trang nhã, trình bày đẹp. Ghi lại hành trình Thơ c ...

Một cách tiếp cận mới về thơ

Thơ Hồ Thế Hà & giấc mơ cỏ hát là chuyên luận thứ hai của Hoàng Thụy Anh vừa mới được ...

Lặng nghe giọt sương rơi

Niê Thanh Mai là tác giả văn xuôi người Ê Đê khá nổi bật ở Tây Nguyên. Chị vừa viết, lại vừa làm côn ...

Đi để lòng mình tĩnh lại

Cuộc sống không ngừng dịch chuyển. Không ai có thể thống kê được hết các chuyến đi trong cuộc đời mì ...

“Nghệ thuật thứ bảy” có chuyển thể được nỗi lòng đại thi hào Nguyễn Du?

Năm 1923, công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương (Indochine Films et Cinémas) của người Pháp đã chuyể ...

“Ném ngói dẫn ngọc” cùng Chu Văn Sơn

Trên trang cá nhân của mình tháng 4/2019, Vũ Khánh đưa lại bài Chu Văn Sơn viết về Trần Hòa Bình và ...