Phúc phần


Ở giữa bãi sông Hồng, nhô lên một bãi cát, những năm trước người ta còn trồng hoa màu những mấy năm gần đây lũ về liên miên, nước dâng trắng xóa, doi cát chỉ còn lại mấy cây vối loi thoi chịu được ngập lụt. Bởi thế không còn ai sang doi cát để tăng gia sản xuất nữa. Bãi cát trở thành hoang vu, cỏ mọc um tùm và chỉ có loại cây vối chịu được nước là xanh tốt, phát triển nảy nở như rừng, thu hút từng đàn chim về làm tổ sinh sống. Tưởng rằng ở cái doi cát đó không có người sinh sống. Nó là vương quốc của chuột, rắn rết và chim muông hoang dã... Nào ngờ trong doi cát đấy còn có một chàng trai sinh sống. Anh ta tên May, bị bệnh hủi, cụt gần mất một bàn tay và các ngón chân cũng đã rơi rụng dần. Anh sống trong một túp lều rách nát, hàng ngày kiếm ăn bằng cách bới những rễ khoai, sắn mà trước đây người ta thu hoạch còn sót lại, qua năm tháng những rễ khoai sắn ấy tự động mọc lên rồi sinh sôi nảy nở, anh lại săn bắt chim muông và cả chuột làm thức ăn. Cuộc đời của anh tưởng là sẽ u ám và chỉ chờ ngày sang thế giới bên kia trong cô đơn, tủi nhục.

Nhưng không, đúng như tên cha mẹ chàng đặt cho, chàng đã gặp may, chàng sẽ cưới vợ, cô dâu là một cô gái mới 16 tuổi, xinh đẹp nhất nhì trong cái làng Dương ở bên kia sông Hồng. Hôm nay chàng rể đang chuẩn bị để đón dâu, chàng ra ngoài bãi cát tìm những bông hoa dại về cắm xung quanh lều rách nát của mình thành một cái lều hoa, trông lãng mạn ra phết với đủ loại hoa mà chàng không biết tên, nhưng rất đẹp. Còn quần áo chú rể, May chỉ có một cái khố rách, chàng ước gì mình có bộ quần áo lành lặn để mặc nhưng làm sao May có được cái may mắn đó nữa. Việc cần làm bây giờ là May nhảy xuống sông tắm rửa cho hết ghét, chàng gội đầu bằng một thứ lá mà chàng không biết tên gì , nhưng vò thấy có bọt, gội đầu trông sạch sẽ hơn. Chàng ước gì có được đôi tất tay, tất chân để chàng dấu đi cái bàn tay đã bị cụt vì hủi và bàn chân đã bị rụng mất mấy ngón.

Mặt trời lên chừng con sào phía đông, chiếu ánh nắng rực rỡ xuống sông. Con sông mùa này chưa là mùa lũ nên nước trong hơn, bắt ánh nắng lấp lánh, Thỉnh thoảng những con cá nhảy lên vẫy vùng trắng xóa lấp lánh như dát bạc, hồi đó sông chưa có người đánh cá nên cá được tự do vẫy vùng, từng đàn nhiều vô kể. May ngồi nhìn về phía làng Dương, và kia ba chiếc thuyền đang ngược dòng nước tiến về doi cát, Chàng biết đó là thuyền đưa dâu. Chiếc đi đầu là gia đình bên nội cô dâu, chiếu đi sau là bên ngoại, cô dâu ngồi chiếc thuyền đi ở giữa. Hôm nay cô mặc bộ quần áo màu trắng, chiếc khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, bên cạnh cô là các cô phù dâu cũng đội nón quai thao nhưng mặc quần áo màu sẫm hơn. Nắng buổi

sáng làm má cô dâu ửng hồng, đẹp đến nao lòng. Cô là con Út trong nhà, người ta không biết hôm nay cô vui hay buồn nhưng trước lúc từ giã cha mẹ để lên thuyền về nhà chồng, cô đã khóc, khóc vật vã làm cha mẹ cô cũng chột dạ.

 

*

 

Thường là các cô gái đi lấy chồng khóc nhưng vui, thế nên mới nói rằng “khóc như cô gái vừa đi lấy chồng”. Nhưng cô Út thì khóc vì buồn thật, bởi vì cô đã biết mặt chú rể đâu. Nghe tin chú rể là một người hủi, tất nhiên là nghèo khổ, sống như một con thú ở giữa bãi hoang thì cuộc đời cô làm sao mà sung sướng, hạnh phúc được? Thế mà hôm nay cô phải sống với con người đó, nhưng đây là tự nguyện của cô.

Cách đây hơn một tháng bố mẹ cô đã gọi cả bốn chị em cô lên nói rằng:

- Nhà ta nghèo lắm, các con đều biết, không có một tấc đất cắm dùi, quanh năm bố mẹ và các con phải đi làm mướn, làm quần quật cả ngày cũng chỉ đổi được mấy bát gạo sống qua ngày vậy thôi, trời cho bố mẹ khỏe, lúc bố mẹ ngã bệnh lấy tiền đâu thuốc thang, không lẽ nhà ta cứ phải sống cơ cực như thế này mãi mà không có cơ hội ngóc đầu lên được? Cũng tại cha mẹ sinh bốn đứa con gái thế nên mới nghèo. Bây giờ ông trưởng họ cho nhà ta 10 mẫu ruộng với điều kiện là cha mẹ gả một đứa sang doi cát giữa sông và lấy một người bị bệnh hủi. Cha mẹ mong các con hãy vì chữ hiếu, vì mọi người trong gia định ta mà hi sinh.

Ông bố nhìn người chị cả, chị cúi mặt không nói gì, nhìn người thứ hai, thứ ba đều im lặng không ai dám nhìn vào mắt bố mẹ. Bỗng cô Út bước lên quỳ xuống chân bố mẹ nói:

- Thưa cha mẹ, cha mẹ nuôi con vất vả từ nhỏ đến lớn, con chưa có cơ hội được đáp đền. Nay vì việc sinh sống của gia đình mình con xin tự nguyện lấy người ấy. Con biết cả ba chị đều đã có người yêu và chắc là đã thề non hẹn biển. Chúng ta không nỡ nào để cho các chị phải lỡ hẹn thề.

Ông bố tròn mắt ngạc nhiên vì cô Út năm nay mới 16 tuổi, còn nhỏ quá mà sao nó lại có thể suy nghĩ chín chắn đến như vậy. Còn người mẹ thì dạt dào cảm kích, bà nhào đến ôm đứa con khóc sụt sùi. So với mấy người con, bà thương Út nhất vì nó chịu khó làm lụng để kiếm tiền về nuôi cha mẹ, quanh năm suốt tháng ở ngoài đồng, ít khi thấy nghỉ ngơi, về nhà nó còn làm việc nhà như xay lúa giã gạo luôn tay, lại luôn hỏi han chăm sóc cha mẹ từ miếng cơm, chén nước. Thế mà hôm nay nó lại hi sinh để cứu cả cái gia đình này, nước mắt bà cứ trào ra vì bà biết rằng con mình rồi đây sẽ phải chịu khổ cực và chắc gì đã hạnh phúc.

Trong lòng cô dâu Thủy hôm nay về nhà chồng còn có động cơ mà cô không nói cho ai biết đó là khi nói về hoàn cảnh của chàng trai nghèo khó bệnh tật cô độc giữa doi cát. Cô thấy ở đời sao có người khổ đến thế?

Thủy đâu biết đâu, cô là thuộc đời thứ sáu của dòng họ Ngọc, ông trưởng họ là bác của cô thuộc đời thứ năm, là chi trưởng. Cách đây hai tháng, ông Ngọc Văn Quý đi xem bói ở một làng cách quê chừng 10 dặm, nghe nói ông thầy bói này giỏi như Quỷ Cốc tử, biết được vị lai quá khứ. Ông Quý sau khi đặt mấy nén bạc trên bàn thờ tổ, lễ lạt xong mới quỳ trước ông thầy bói thưa rằng:

- Thưa thầy, dòng họ nhà con đã nhiều đời đi thi mà không lần nào đỗ đạt, thầy xem cho một quẻ.

Ông thầy bói nhìn vào mặt ông Quý hồi lâu rồi phán:

- Nhà ông giàu lắm đúng không? Không phải đời này mà bốn đời trước rất giàu, ông giàu bằng cách nào chắc ông tự biết. Cách làm giàu của ông không để đức lại cho con cháu, bởi thế dòng họ nhà ông có muôn đời đi thi thì cũng chẳng đỗ.

Ông Quý toát mồ hồi nhìn ông thầy bói lạy lia lịa:

- Thưa thầy thầy đã biết quá khứ gia đình con thì cũng thưa thầy giúp cho dòng họ con gỡ được cái kiếp nạn này. Con không tiếc tiền miễn là thầy giúp con được toại nguyện.

Rồi ông Quý thò tay vào túi lần từng nén bạc nghe lách cách. Ông thầy bói xua tay:

- Ta không giúp được nhà ngươi. Ngươi tự thắt thì ngươi tự mở, thôi không phải đa lễ. Ngươi hãy về đi.

Ông Quý bàng hoàng đứng lên thấy đầu óc xây xẩm, tim đập loạn nhịp, ông bước ra khỏi nhà ông thầy đi như chạy, ông cứ hướng về quê mình mà bước, không biết rằng chiều đã tắt nắng, ánh tà dương đã phủ xuống đồi núi cây cỏ. Ông cứ cắm cúi đi mãi. Rồi ông thấy mệt, thấy đói mà con đường về cứ vắng ngắt. Không biết bao lâu ông Quý nhìn thấy ánh đèn leo lét trong một quán bên đường, vừa đói vừa mệt, ông tạt vào quán nghỉ chân và kêu thức ăn dằn bụng thì ông nhìn thấy ông lão râu tóc bạc phơ đang ngồi xếp bằng trên chiếc chõng, trông như một bức tượng, ông Quý thấy lạ quá bèn sụp xuống lạy ông lão và nói:

- Thưa thầy, thầy hãy giúp đỡ con cho qua cái kiếp nạn này.

Mắt ông lão chợt sáng lên, ông vuốt râu cười khà khà:

- Vì sao người lại tôn ta làm thầy?

Ông Quý cúi đầu đáp:

- Vì con nhìn thấy ánh hào quang từ người thầy tỏa ra, con biết con đã gặp cao nhân.

Ông lão vuốt râu cười khà khà:

- Giúp người vượt qua kiếp nạn ư? Kiếp nạn nhà ngươi bắt đầu từ đời thứ nhất, ông tổ nhà ngươi lều chõng lên kinh đi thi, đã được người dân làng Dương cho trú ngụ nhường cơm sẻ áo cho, ông ấy chỉ có việc dùi mài kinh sử để bước vào trường thi mà thôi. Nhưng ông ta đã quyến rũ cô gái con chủ nhà và làm cô ta có chửa. Kỳ thi năm ấy ông ấy trượt. Lẽ ra ông ấy phải khăn gói về quê nhưng đã quyến rũ cô gái dựng túp lều ở bìa làng sinh sống. Ông ấy đã phạm vào hương ước của làng Dương thiêng lắm, thành hoàng làng phạt dòng họ nhà ông, bởi thế dù có học hành mãi vẫn không thi đỗ.

Ngọc Văn Sáng ngồi nghe lòng thấy vui mừng vô hạn. Bởi lẽ chưa bao giờ gặp cao nhân nói đúng lai lịch dòng họ nhà mình. Nếu vậy chắc ông ta sẽ có cách hóa giải những sai lầm trong quá khứ .Nhưng dù nghĩ vậy Ngọc Văn Sáng vẫn không dám để lộ niềm vui trên nét mặt. Ông cứ thản nhiên, chăm chú ngồi nghe những lời phán bảo của ông thầy. Bỗng ông thầy lên tiếng hỏi:

- Có phải bây giờ trước mặt làng Dương, ở giữa sông có một doi cát?

Ngọc Văn Sáng thở dài:

- Bẩm thầy đúng ạ.

Ông thầy lại nói:

- Ngày xưa đã có lần dân làng Dương và các làng bên cạnh kéo nhau ra khai phá doi cát ấy. Nhưng gần đây, nước năm nào cũng to, mùa năm nào cũng mất cho nên doi cát gần như bỏ hoang. Khi mùa cạn thì cỏ dại mọc, mùa nước lũ thì nước ngập trắng băng chỉ còn lại mấy cây vối là đứng được.

Ngọc Văn Sáng trợn tròn mắt, bởi những điều ông ta nói quá đúng. Ông lại chắp tay:

- Bẩm thầy đúng thế ạ!

Ông thầy lại nói tiếp:

- Nhưng mà trên doi cát ấy bây giờ vẫn có người ở đấy.

Ngọc Văn Sáng hoang mang. Ông ta nghĩ làm sao lại có người ở đấy? Vậy thì không biết thực hư ra sao? Nhìn nét mặt Ngọc Văn Sáng ông thầy thở dài nói:

- Cái người sống trên doi cát ấy, họ sống bằng củ lăng củ ấu và cỏ dại, cũng có khi bắt chim, nhái, chuột để sống. Nhưng khi nước lớn lại trèo lên cây vối ngủ.

Ngọc Văn Sáng hiểu ra và chấp nhận những điều ông thầy nói. Lòng anh lại thắc mắc không hiểu ông thầy nói với mình những điều nay để làm gì? Nhưng Ngọc Văn Sáng vẫn kiên trì chờ đợi. Ông thầy hiểu tâm trạng của Ngọc Văn Sáng, ông hơi chúi đầu về phía Ngọc Văn Sáng và nhấn mạnh. Bây giờ ông mới nói đến cái điều ông cần lưu ý và làm cho đúng:

- Cái người sống ở doi cát ấy là một thanh niên bị mắc bệnh hủi, không biết quê quán ở đâu, trôi dạt thế nào mà bây giờ lại ở đấy. Nhưng có điều nếu anh ta chưa chết thì dòng họ Ngọc nhà ông không thể nào mở mày mở mặt lên được.

Hai người tiếp tục ngồi im lặng nhìn nhau ,rồi ông thầy thong thả nói:

- Người thanh niên này chỉ có ao ước duy nhất là được ngủ với người đàn bà một lần và số trời đã định cho anh ta là khi đã được ngủ với người đàn bà thì anh ta sẽ chết. Khi anh ta chết ngay lập tức có đống mối xông lên từ xác của anh ta to như đống rơm. Lúc ấy họ hàng nhà ông chỉ cần mang gạch vữa ra xây cho anh ta cái miếu thờ, bốc cho anh ta bát hương tử tế.

Thấy Ngọc Văn Sáng ngồi thừ ra, ông thầy hỏi lại:

- Tôi nói thế anh rõ chưa?

Ngọc Văn Sáng gật đầu:

- Bẩm thầy rõ rồi ạ.

Nói rồi ông thầy móc tiền trả bà chủ hàng nước, chống gậy khoác bị đi ngược về phía xứ Đoài. Hiểu được thâm ý của cao nhân, Ngọc Văn Sáng tin rằng đây chính là cơ hội đổi vận cho dòng họ nhà mình. Trở về nhà triệu tập tất cả những người dòng họ Ngọc ở làng Dương đến nhà thờ họ để bàn bạc. Mọi người cứ im lặng nghe câu chuyện dài dòng, vòng vo của ông Sáng. Mãi cả tiếng đồng hồ sau ông mới dừng lại thì lúc ấy người cũng đã mệt mỏi rã rời, mồ hôi vã ra như tắm. Bà vợ ngồi tận đầu chiếc chõng ngoài cùng vội vàng mang cho ông chiếc khăn tay. Trong lúc ông lau mồ hôi, mọi người bàn tán với nhau, ông Sáng đành nói:

- Đây là việc của cả họ nên tôi mới bàn với mọi người, nếu ai cũng chỉ lo cho mình mà không nghĩ đến dòng họ thì thôi khỏi bàn.

Nói rồi ông vùng vằng đi thẳng vào trong, thắp hương lên bàn thờ tổ. Ý ông muốn rằng tổ tiên chứng giám cho sự khó khăn của ông cũng là vì sự cạn nghĩ của mọi người, nên ông không thể làm thế nào vừa lòng tổ tiên được.

Lúc mọi người ra đến sân, có tiếng ai đó nói vọng lại:

- Nếu ông ấy muốn thì sao ông bà ấy không cho cái Mẫu sang lấy người ta lại còn mang ra bàn với cả họ.

Có người lại nói:

- Khoa với bảng thì làm gì? Chẳng làm quan thì làm dân. Các cụ nói rằng quan nhất thời dân vạn đại.

Lúc mọi người về cả rồi bà vợ ông Sáng mới từ sân bước vào nhà, thấy ông đang ngồi thừ ra trên tràng kỷ. Bà ghé ngồi vào cái tràng kỷ đối diện, nói:

- Thế thì cũng khó đấy ông nhỉ?

Ông Sáng thở dài:

- Khó gì mà khó, tôi đã nghĩ kỹ rồi, nếu chẳng ai chịu mang con gái thì cho con Mẫu nó đi.

Nghe đến đấy bà vợ đùng đùng nổi đóa lên nói:

- Ông đừng có mà nghĩ vớ vẩn, nhà người ta ba, bốn đứa con gái còn không chịu, đằng này nhà mình chỉ có mỗi cái Mẫu bầu bạn với tôi mà ông lại cho nó đi, ông định giết tôi à?

Ông Sáng nghĩ cái tính đàn bà là tham lam như vậy đấy, vừa muốn có con đỗ đạt làm quan lại vừa muốn có con gái kè kè bên cạnh. Mất thì không muốn mất gì mà được lại muốn được mọi thứ. Suốt cả ngày sau ông không nhắc gì chuyện đỗ đạt với bà vợ. Nhưng một hôm bà lại chủ động nhắc lại chuyện học hành, thi cử của thằng Phúc, thằng Đức, thằng Tại, bà nói xem chừng cả ba thằng con nhà mình đứa nào cũng học hành chăm chỉ. Chúng nó mà được trời giúp thì chắc cũng sẽ có đứa đỗ, chẳng cử nhân cũng tú tài, chẳng Trạng Nguyên cũng Bảng Nhãn. Chỉ khổ một nỗi...

Bà bỏ lửng và thở dài. Bà kéo đĩa trầu ở trên bàn, têm một miếng bỏ vào miệng và đưa mắt nhìn ra cửa phóng tầm mắt nhìn ra xa.

Ông Sáng biết vợ lại muốn bàn với mình chuyện khoa cử của mấy thằng con. Ông trở kế thi gan. Ông cũng im lặng không nói gì chỉ ngồi hút thuốc lào vặt. Một lúc sau bà vợ lên tiếng:

- Hay tôi bàn với ông thế này. Nhà chú Bần có đến bốn đứa con gái, hay là nói với chú ấy bớt ra một đứa gả cho người ta. Tôi là tôi tính thế này, nhà mình ruộng đất nhiều vô kể, xưa nay trong họ ngoài hàng cũng nhiều người túng bần mà mình cũng chả giúp được ai.

Ông Sáng tỏ ra bực dọc nói:

- Sao lại không giúp ai? Nửa cái họ Ngọc này cấy rẻ cho nhà mình. Năm nào tháng ba, tháng tám tôi cũng bỏ ra hàng trăm thúng thóc để cho vay. Mùa nào tôi cũng thuê hàng trăm nhân công để cầy cấy gặt hái.

Bà vợ bĩu môi:

- Ấy vậy nhưng người ta vẫn nghĩ đấy là chuyện làm ăn của mình, người có của kẻ có công, ông có cho không ai cái gì đâu? Bây giờ tốt nhất... Ông cứ gọi chú ấy đến nói rằng: đây là việc cả họ, cô chú và tôi đều phải biết hi sinh để mang lại danh dự cho dòng họ. Cô chú có bốn đứa thì cho một đứa sang bên bãi, còn tôi cũng hi sinh năm mẫu ruộng sang tên cho chú để gọi là bù đắp lại phần những hi sinh của chú cho dòng họ.

Ông Sáng bắt đầu tỏ ra tươi tỉnh lại, nhưng vẫn hỏi:

- Liệu thế nó có bằng lòng chưa?

- Nó không bằng lòng thì cho nó bảy mẫu, nếu không nữa thì cho nó hẳn 10 mẫu - Bà nhếch mép rồi tiếp tục - Tôi nói thật với ông, người ta nói “Một miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”. Nhà mình có một đứa làm quan thì hơn 100 mẫu nhất đẳng điền. Bây giờ ông đã gặp thầy, gặp thợ có khi đấy cũng chính là trời gửi người xuống để bảo ban đường đi nước bước cho nhà mình. Lúc này nhà mình bỏ qua thì biết đến đời nào mới ngóc đầu được?

Vài ngày sau ông Sáng thân chinh đến tận nhà ông Bần ở xóm dưới để bàn bạc. Thấy ông trở về bà vợ đang lúi húi trong bếp, giở tay lúc nồi cơm đang sôi. Bà gọi cái Mẫu đang dọn sân:

- Mày vào mẹ nhờ tí.

Cái Mẫu vừa bước vào đến cửa bếp, bà chỉ vào nồi cơm đang sôi rồi tất tả lên nhà trên, chưa kịp ngồi xuống tràng kỷ bà đã hỏi chồng:

- Thế nào, chú ấy có đồng ý không?

Ông chồng trả lời:

- Cũng phải đến 10 mẫu nó mới chịu.

Hôm sau ông thuê chuyến đò ngang tìm sang doi cát giữa sông vào một buổi hè nóng nực, vậy mà khi sang đến doi cát gió tứ bề thổi mát rượi. Ông tìm đến gốc vối ở chính giữa bãi, có lẽ ấy là chỗ đất cao nhất. Ông nhìn thấy túp lều ken toàn là lau sậy, chỉ đủ một chỗ nằm. Lúc ông đến nơi thì thằng hủi vẫn nằm trong lều. Ông hắng giọng, anh ta mới lòm ngòm chui ra. Ông hỏi thăm chuyện sinh sống của anh ta rồi ngỏ ý muốn giúp anh ta cưới vợ. Anh ta quỳ xuống chắp tay lạy ông như lạy trời và nói:

- Cháu đội ơn ông nhưng cháu không dám.

- Tôi giúp anh chứ không có điều kiện đòi hỏi gì, sao anh không dám?

- Cháu bệnh hoạn dơ dáy thế này làm chẳng đủ ăn sao lại dám đa mang, rồi chỉ làm người ta khổ.

Anh ta vừa nói vừa giơ bàn tay đã cụt mất mấy ngón và chỉ xuống bàn chân đã mất đến nửa bàn. Ông Sáng an ủi:

- Không sao, mình anh thì khổ sở vậy đấy. Nhưng bây giờ có thêm người phụ nữ, người ta sẽ thương yêu anh, giúp đỡ anh trồng trọt chăn nuôi để có gạo khoai sắn đắp đổi qua ngày. Người ta cũng sẽ thuốc thang chạy chữa cho anh, bệnh tình anh cũng sẽ nhanh khỏi.

Nói thế nào anh ta cũng tỏ ra tuyệt vọng và với một lòng nhân từ, không muốn ai dính vào mình để trở nên bất hạnh khi lây căn bệnh của anh sang họ. Nhưng rồi khi nghe ông Sáng thuyết phục, anh ta lại thấy một chút hi vọng, càng về sau anh ta càng không nói gì, chỉ chắp tay lạy ông Sáng và khóc. Cũng không biết đấy là tiếng khóc của sự đau khổ tột cùng hay là tiếng khóc của niềm hạnh phúc tột độ.

Từ hôm ấy vợ chồng ông Sáng và vợ chồng ông Bần đi lại với nhau như con thoi. Họ bàn với nhau chọn ngày lành tháng tốt để cho cái Thủy về nhà chồng.

 

*

 

Chàng thanh niên hủi có tên là May. May và Thủy sống với nhau được hơn một năm thì Thủy sinh con đầu lòng là bé trai khôi ngô tuấn tú. Những ngày đầu chung sống thật gian nan vất vả. Ban ngày Thủy dọn cỏ ở miếng đất phía đông, cô cuốc đất rồi bỏ vào đó những hạt giống đậu cô mang theo từ nhà sang. Khi hạt đậu đã nhú mầm lên xanh thì những đàn chim lại sà xuống mổ sạch làm thức ăn. Cô lại sang cuốc mảnh đất phía tây. Lần này cô cẩn thận hơn, khi thấy mầm cây nhú lên cô dặn chồng:

- Anh May ơi, hôm nay anh hãy ngồi trông chim, nó sà xuống thì phải đuổi nó đi kẻo nó lại ăn hết cây đậu non.

Nhưng rồi khi thấy đàn chim sà xuống, May lại chỉ ngồi nói chuyện với chim và để chúng ăn hết những mầm cây mới mọc. Buổi chiều, Thủy ngồi nhìn mầm cây sáng nay còn xanh tươi mơn mởn mà bây giờ chỉ thấy trơ một màu nâu của đất. Thủy ngồi khóc và trách móc May:

- Chỉ có việc đuổi chim mà anh cũng không làm được, có vài bơ đậu giống mấy ngày nữa gieo hết mà cứ để chim ăn sạch thế này rồi vợ chồng mình lấy gì mà sống?

May chỉ ngồi cười khì khì rồi nói với Thủy:

- Ở đây buồn lắm, chim xuống làm cho mình vui, làm sao tôi nỡ đuổi nó đi được?

Cũng may năm ấy nước không lớn, doi cát không bị ngập. Nhưng trên doi cát chỉ còn lại một miếng đất cùng đám đậu. Ba tháng sau vợ chồng Thủy cũng để được một đống đậu chất trong lều của họ.

Ban đêm Thủy ngồi nhìn xuống mép nước lúc thủy triều lên, cô thấy nhiều đàn cá tung tăng bơi lượn, có con còn quẫy đuôi nằm phơi mình trên mép cát. Thủy nghĩ ra kế, cô moi những hố cát to như cái thúng, sâu hơn thước sát mép nước. Lúc nước lên cá không biết cứ lượn lờ rồi chui vào hố. Nửa đêm về sáng, lũ cá không biết lối ra, sáng hôm sau Thủy gọi chồng ra bắt. Cá bắt được phơi trên doi cát trắng cả một vùng.

Khi đưa con sang bên bãi, bà Bần bỏ xuống thuyền cho Thủy đôi chiếu. Đêm nào họ cũng dùng một chiếc chiếu trải lên cát rồi hai vợ chồng nằm đến sáng nói chuyện. Sau hàng tháng như vậy, Thủy thấy quần áo May bị rách tả tơi. Một hôm lợi dụng đêm trăng sáng, cô dùng tay găng trên người May để lấy kích thước rồi cô phá bộ quần áo mới của mình ra may cho May vài chiếc khố. Lúc cô chạm vào da thịt May, người bỗng thấy nóng bỏng như phải lửa. May cũng tỉnh dậy. Đêm ấy mới chính thức trở thành đêm tân hôn của đôi vợ chồng trẻ. Có điều Thủy không thể biết được những chuyện ông thầy đã tiết lộ với bác Sáng. Cô chỉ thấy suốt ngày hôm sau May bần thần lo lắng. Đêm ấy May lấy chiếc bao bạt của Thủy treo lên cành vối thắt cổ tự tử, may mà Thủy phát hiện ra cứu được, chờ cho May tỉnh lại Thủy hỏi:

- Vì sao anh lại làm thế?

May nói:

- Bố mẹ tôi dạy tôi không được ham hố điều gì, cái gì cũng chỉ nên biết rồi thôi. Nhưng đêm hôm trước tôi đã gặp Thủy, Thủy đã mang lại cho tôi hạnh phúc. Nhiều đêm sau tôi không chịu nổi sự cám dỗ đến mức tôi nghĩ chỉ cái chết mới thực hiện lời dạy của cha mẹ mình:

- Cha mẹ anh là ai và bây giờ họ ở đâu?

May lắc đầu không nói, mấy hôm trời trở mưa dầm gió bấc, hai vợ chồng chui vào ngủ trong lều. Cái lều thì bé tẹo không trải đủ một chiếc chiếu nên hai vợ chồng phải nằm sát vào nhau và họ không thể nào giữ được. Đêm ấy hạnh phúc lại đến với họ lần thứ hai.

Thủy hồi hộp lo lắng và lại giống như lần trước, nửa đêm về sáng May bò dậy lao mình xuống sông tự tử. Buổi sáng trở dậy không thấy May đâu, Thủy hớt hải chạy khắp doi cát để tìm. Bỗng cô thấy May đang nằm hấp hối, một nửa trên cát một nửa dưới nước. Cô dìu May về lều chăm sóc. Cũng may May lại sống lại.

Ngày cô được bà con họ Ngọc đưa sang bãi lấy chồng, mẹ cô dặn cô rằng: Lúc nào con cần thì buộc cái khăn trắng vào đầu cành cây, mẹ sẽ xin thuyền sang đón con về. Sau hôm đưa dâu, ngày nào bà Bần cũng ngồi ở bờ sông suốt từ sáng đến tối mà không thấy dấu hiệu gì của cô con gái.

Từ sau cái lần tự tử thứ hai không thành, không biết vì sao khi nghe lời tâm sự và an ủi của Thủy, May trở thành người ham sống, nhất là May được Thủy báo tin: “Chúng mình sắp có con”. Kể từ đó May thay đổi hẳn. Anh ta lúc nào cũng lo lắng, chịu khó chăm làm. Cho đến ngày Thủy sinh con trai, thấy thằng bé khôi ngô tuấn tú, hai vợ chồng bảo nhau đặt tên con là Quý. Thằng Quý vừa đầy năm thì Thủy đặt bàn tay lành lặn của May vào bụng mình rồi nói: “Chúng mình lại sắp có con nữa đây này”. May lại chăm chỉ làm lụng và lo lắng chờ đợi. Chẳng bao lâu sau Thủy lại sinh một bé gái. Đứa bé trùng ngày sinh với mẹ nên Thủy bàn với May đặt tên con là Thìn.

Một hôm trời mưa to gió lớn, sấm chớp đùng đùng, những con sóng dữ dội từ dưới sông vật vã nhảy lên doi cát. Đến cái gốc vối nơi có túp lều của gia đình họ, mà thần nước cũng bỏ cái lưỡi trắng xóa liếm đến tận nơi. Thủy sợ quá ôm hai đứa con vào lòng rồi bảo chồng:

- Nhà mang hai cái chiếu đắp lên mái lều không mưa ướt hết cả nhà bây giờ.

May làm theo lời vợ. Anh vừa chui ra đến cửa lều hai tay còn ôm hai chiếc chiếu thì một tiếng sét vang trời đánh trúng vào May. May chết gục ngay tại chỗ.

Thủy vô cùng thương xót May. Cô ôm chồng khóc suốt một ngày một đêm ròng rã, rồi cô bới cát vùi May cạnh túp lều. Chỉ một đêm sau, khi trời sáng, Thủy thấy một đống mối đùn lên từ ngôi mộ của May to như đống rơm. Thủy bỗng nhớ đến câu chuyện người ta có nhắc đến đống mối nên nhớ lời mẹ dặn cô mang tấm khăn trắng buộc vào thân cây huơ lên trời. Mấy ngày sau mới có một con thuyền từ làng sang, đấy là thuyền của bà Bần đến đón con. Từ ngày Thủy sang làm dâu bên doi cát, bà Bần nghĩ thương con nên suốt ngày chỉ kêu khóc, vật vã, người bà khô đét lại như con mắm, mái tóc bạc trắng xóa, còn đôi mắt thì đã lòa, nhìn cái gì cũng chỉ lờ mờ một màu trắng đục. Còn ông Bần từ 10 mẫu ruộng chịu khó canh tác cũng trở nên giàu có. Ba người chị gái của Thủy đã đi lấy chồng. Khi bà Bần đưa mẹ con Thủy về đến nhà, ông Bần mới tính chuyện đi khai sinh cho các cháu. Khi hỏi ra ông sững người khi Thủy nói họ tên từng đứa là Ngọc Văn Quý, Ngọc Thị Thìn. Ông ngạc nhiên hỏi:

- Thế cậu ấy cũng họ Ngọc à?

Thủy đáp:

- Vâng ạ!

Ông lại hỏi:

- Con có hỏi tử tế hay lại lấy họ mình đặt cho con?

- Không đấy là tên của nhà con đặt cho các cháu. Con còn nhớ rằng lúc nhà con còn sống không bao giờ gọi các con bằng tên mà bao giờ cũng xướng cả họ lẫn tên: Ngọc Văn Quý của bố ơi, Ngọc Thị Thìn của bố ơi!

Câu chuyện Thủy trở về với hai đứa con nhỏ chẳng làm ông Sáng vui mừng. Ông bảo vợ:

Thế là chúng ta đã đi gần hết canh bạc. Thằng hủi đã chết và đống mối đã đùn lên, nay ta chỉ còn việc mang gạch sang xây cho anh ta một cái miếu. Việc thứ hai là khoa thi sắp tới, tôi sẽ thuê cho mỗi đứa nhà mình một ông thầy kèm cặp, chắc chắn chúng nó sẽ thi đỗ.

Bà vợ nói:

- Thằng Phúc đã có một vợ một con rồi, tưởng thôi chứ ông vẫn bắt nó đi thi à?

Ông Sáng nói dứt khoát:

- Một vợ một con chứ có đến năm vợ mười con tôi cũng bắt chúng nó đi thi..

Nhưng đến khoa thi năm ấy, cả ba đứa con của ông Sáng đều trượt. Không nản chí ông tiếp tục mời thầy kèm cặp cho cả ba đứa đi thi lần nữa nhưng đều không đỗ. Ông bắt đầu uống rượu và chửi bậy:

- Cha tiên nhân thằng thầy nói láo!

Rồi ông rủa:

- Trời chu đất diệt cả họ nhà nó.

Bà vợ lại tỉ tê khuyên ông:

- Hay là trời thử lòng nhà ta. Nếu đời này không được làm quan ta kiên trì tiếp tục lo đời sau. Con tụi thằng Phúc, Đức, Tại sẽ thi đỗ cũng nên.

*

Đúng 20 năm sau nhà vua mở khoa thi, sĩ tử khắp nơi lại lều chõng kéo về kinh để ứng thi. Làng Dương năm ấy có năm người đi thi, một người họ Phạm, một người họ Trịnh và ba người họ Ngọc, hai đứa cháu nội của ông Sáng và thằng Ngọc Văn Quý, con của bà Thủy.

Bao nhiêu ruộng vườn đất đai vợ chồng ông Sáng bán bằng hết để lo cho hai đứa cháu đi thi. Khoa thi năm ấy cả hai đứa cháu của ông và hai anh chàng họ Trịnh, họ Phạm đều trượt, chỉ có mình thằng Quý 21 tuổi đỗ thủ khoa. Cả làng ai cũng reo vui phấn khởi, gọi Ngọc Văn Quý là trạng của làng Dương.


Nguồn Văn nghệ số 42/2018

Tin liên quan

Chìm nổi phận sông

Có người bạn ở xa nhắn tin: Sao tôi thấy hầu hết các tác phẩm của ông đều đề cập tới sông? Tôi trả l ...

Chuyện của Sóc

Mãi rồi mà tôi vẫn chưa quen được: mình đã lên ông nội. Hương cũng vậy, sao đã thành bà trong khi lò ...

Cái lí của kẻ khùng

Một buổi tối tôi đang mở đèn ngoài sân rửa chân tay sau một buổi chiều phát dọn cỏ gai quanh nhà phò ...

Cỏ miên hương

Lần mất trí thứ năm Khuôn mặt ông lão nhúm nhó. Cái miệng trẻ thơ cười ngây dại. ...

Tiếng thở dài theo ngọn gió bên sông

​ Chiều nay gió từ đâu đó ở phía thượng nguồn ào về hú rền thung lũng, thổi ràn rạt trên những mái t ...

Ngọn sóng khơi xa

Tôi vừa có chuyến công tác đặc biệt theo tàu Trường Sa 571 của Lữ đoàn 146 Vùng 4 Hải quân, đi thay/ ...

Chiều mưa thánh đường

Hồi nhỏ, tôi thường nghe má nói về chuyện người Chà Và “thư” (bỏ bùa) làm người ta bụng bự, đến khi ...

Làng đảo

Tôi đến đảo Trần (thuộc địa bàn thôn Đảo Trần, xã Thanh Lân, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh. Hòn đảo c ...

Soi bóng ao quê

Quê tôi vùng chiêm trũng châu thổ sông Hồng. Nhà ai cũng có một cái ao. Ngày ấy nhà tôi có hẳn hai c ...

Bản tình ca

Hơn hai ngàn khán giả gồm phần lớn là sinh viên các trường nghệ thuật của thủ đô đều nhất loạt đứng ...

Chiếc bình kỷ vật

Cái tin lão Diệu một lần nữa làm lỡ danh hiệu “làng văn hóa” của làng DânAnloang ra khắp xã Dân Hòa. ...

Một dải biên cương xanh

​Mùa hè năm 1975, sau khi kết thúc khóa huấn luyện tân binh ở Trung đoàn 22B, Sư đoàn 341B (Đoàn Sôn ...