Nỗi khát thèm cô đơn


 

Đá là tập thơ thứ 5 của Đỗ Thành Đồng. Điểm xuyết, vấn vương một chút dáng dấp của Rác, Rỗng, Xác (tên những tập thơ trước của anh), nhưng thần thái của Đá đã khác.

Đề tài Đá mở rộng, thể hiện cái nhìn đa chiều, đa sắc trước cuộc sống. Vấn đề dù nhỏ, vụn vặt, thậm chí tầm thường đều đi vào thơ mà ở các tập thơ trước chúng ta ít có cơ hội chứng kiến. Chuyện cái áo đang mặc, hòn đá, con giun kim, tiếng hú của xe cấp cứu, tiếng mọt, tiếng chó sủa, chuyện làm đĩ, người đàn bà góa, kẻ bán hàng rong, cho đến bức tranh, hoa ngày tết, bức di chúc của Cha,... là sân chơi của Đá. Với những đề tài này, Đỗ Thành Đồng đã bắt nhịp với đời sống thơ đương đại, đồng hành với bề bộn, xô bồ của cuộc sống. Những gì lãng mạn hầu hết bị tước bỏ, chỉ còn lại hiện thực trụi trần, ngổn ngang như chính gương mặt cuộc sống hiện tại.

Bất kì một thi sĩ nào khi đặt bút làm thơ, không thể không có những vần thơ viết về chính cuộc tình của mình. Viết về tình yêu, Đỗ Thành Đồng luôn hiện diện là một kẻ cô đơn. Anh cô đơn từ Rác, Rỗng, Xác. Anh tự xem mình là kẻ “có nỗi buồn trăng mười sáu”. Ý tưởng “ngày cô đơn nở hoa” từ tập thơ trước nay vẫn tiếp tục sinh sôi. Nhưng nỗi buồn Đá đa mang hơn: “có những nỗi buồn quá ngon/ có những cô đơn quá đẹp” (Ngẫm). Sự đổ vỡ trong tâm hồn cùng với sự rạn nứt của đời sống làm nên thế giới của Đá. Một thế giới tổn thương nhưng rắn rỏi, xù xì nhưng ấn tượng, vụn vặt nhưng lớn lao, khổ đau nhưng phập phồng sự sống: “cuộc đời này như một sợi dây/ để vậy thì tuột/ thắt nút dễ đu// xin về nghe lại lời ru/ gừng cay muối mặn/ vẫn chưa nhạt nhòa” (Ngẫm).

Với hình thức tự soi ngắm mình, Đỗ Thành Đồng dựng lên hai mặt của thực tại ngay trong tập thơ Đá. Hiện thực gồ ghề mà anh tạo ra, thực ra, chỉ là hiện thực tạm thời, là một nước cờ tạm bợ. Hiện thực anh muốn hướng đến, chính là hiện thực được cất lên từ mạch ngầm vô thức trái tim anh. Thì ra, những mảnh vỡ, đứt rời của thực tại chỉ để dắt díu nhau làm nên ngôi nhà tinh thần của cái tôi chủ thể Đỗ Thành Đồng. Yếu tố vô thức trong Đá đa phần ở dạng đối thoại với bản ngã: “anh là ai anh sống để làm gì/ sao không là tiếng côn trùng bản năng/ sao không là bước chân mộng du/ sao không là vọng phu hóa đá” (Ai); hoặc “đã có lúc tôi muốn đổ đi/ những mùi hương cong cớn/ và nhiều khi tôi muốn đập vỡ/ những tiếng chim rúc rích trong người” (Buồn). Đọc những câu thơ trên, thấy Đá có tính chất song trùng trong đối thoại: đối thoại với cái tôi và đối thoại với cuộc sống. Với hình thức đối thoại nước đôi này, Đỗ Thành Đồng dễ dàng chất vấn cuộc sống hơn. Kẹt là một ví dụ: “và từ đó tôi hay nằm mơ/ những cái bóng trùm lên đôi mắt giữ chặt tay chân/ tôi cảm thấy bị tước đi cái quyền vùng vẫy/ nhưng không biết đó là ai”.

Hiện thực tác động đến thi sĩ, thi sĩ khám phá hiện thực qua điểm nhìn (ý thức và vô thức) của mình. Do đó, hiện thực trụi trần, bất trắc cũng chính là hiện thực cõi lòng của tác giả. Đỗ Thành Đồng mắc kẹt trong chính con người của mình nghĩa là anh cũng đang mắc kẹt giữa cuộc sống này. Góc cạnh của hiện thực được phơi bày qua tiềm thức, vô thức của anh không chỉ giúp anh xoáy sâu vào mặt trái của hiện thực mà còn đưa người đọc đến với thế giới hiện thực của tâm linh. Dùng vô thức soi sáng ý thức, đây là hướng đi riêng của Đỗ Thành Đồng. Sự tưởng tượng khéo léo tạo nên nhiều ý thơ hay cho tập thơ “Đá”:

nước mắt chảy dài từ mặt trời

cỏ rạp mình dưới đá

lời ru ngọn lửa lá đa

bão giông gồng mình thin thít

(Tang)

Đỗ Thành Đồng khám phá chính mình thông qua cấu trúc tự xưng “anh là”, hoặc cấu trúc câu “anh” làm chủ ngữ, như một sự khẳng định cái tôi bản ngã của mình, đồng thời, như là một lời sẻ chia, tâm tình với bạn đọc. Tâm thế của anh không bị ràng buộc bởi hiện thực bòng bong ấy. Đây là điểm nhấn của Đá. Anh là anh. Anh đau với chính anh. Anh quăng quật anh với cuộc sống. Anh không cố trút bỏ nỗi buồn đau, nỗi cô đơn ra khỏi con người mình:

anh vẫn vắt vê con chữ

trong veo giọt đau

(Vắt)

            Một tập thơ, không tránh khỏi những thiếu sót. Nhưng những gì mà Đỗ Thành Đồng nỗ lực đã mang đến làn gió mới cho thơ mình, chí ít, tránh lặp lại chính mình. Với Đá, anh vừa mạnh mẽ, cứng cõi như đá, vừa giữ cô đơn để nở hoa những câu thơ.

 

Nguồn Văn nghệ số 47/2019

 

 

Tin liên quan

Tiếng hát của dòng sông

Với tôi, Cà Mau, gắn bó một thời tuổi trẻ. Những ngày đuổi đàn Thòi Lòi, dầm mình trong bùn đất vét ...

Trốn chạy đô thị - khả năng và bi kịch

Đô thị là không gian sinh tồn của con người, là “điểm nóng” có sức hút dân cư rất lớn, nhưng lại khô ...

Một tiếng thơ chan chứa tự hào và sâu nặng ân tình với Đảng

​Trong quyển Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 1997, nhà thơ Tố Hữu đã tự bạch: “ ...

GẶP LẠI NHỮNG BÍ MẬT CỦA TẾT…

Vậy là chưa đầy tháng nữa, Tết sẽ đến. Khi đất trời giao hòa, cũng là lúc mọi thứ ồn ào, tranh cãi, ...

Sức hấp dẫn của một cuốn tiểu thuyết

Khi tôi chuẩn bị viết về tiểu thuyết Nậm Ngặt mây trắng của Nguyễn Hùng Sơn, một anh bạn nhà văn đã ...

Trăn trở cùng sông quê

Sông Quê tập hợp chín truyện của Trần Mạnh Hùng viết đề tài nông thôn, chỉ có ba truyện: Cây Đàn Tam ...

Những cuộc tình có đủ nụ cười và nước mắt

Do ngẫu hứng, tôi đọc Mặt trời và những cơn mưa bằng cách đọc khá kỳ cục, thông thường người ta lần ...

Tính dự báo của văn chương – thế nào, tại sao?

Người cực đoan thì khó lòng khách quan trong mọi trường hợp. Bảo, các cụ xưa nói, cấm câu nào sai. T ...

“Thơ chống Mỹ” và mấy suy nghĩ về xây dựng đội ngũ tác giả kế tục

​Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam ra đã sản sinh ra thế hệ “nhà văn chống Mỹ” ...

Phê bình văn nghệ có còn không?

Mấy chục năm qua, phê bình luôn luôn được coi là khâu yếu nhất của nền văn nghệ. Nhẹ thì cũng là chư ...

Một cánh cửa vào cõi vô biên

​Có thể nói, đề tài chiến tranh không còn mới nữa, vì người ta viết rất nhiều rồi. Đặc biệt, hình ản ...

Căn tính dân tộc và toàn cầu hóa trong sáng tạo văn học

Văn hóa các dân tộc vốn rất đa dạng, thậm chí khác biệt. Trong kỉ nguyên toàn cầu hóa, có hai xu hướ ...