Ngôn ngữ truyền hình suy nghĩ và kiến nghị


Báo chí, truyền hình là phương tiện truyền thông có vai trò rất quan trọng, có sự ảnh hưởng, lan tỏa và tác động rất lớn với công chúng và đời sống xã hội – được mệnh danh là “quyền lực thứ tư”. Đứng về mặt khoa học đó là một phương tiện tuyệt vời để chuyển tải thứ ngôn ngữ chuẩn mực, sáng tạo và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Vì vậy ngôn ngữ báo chí – trong đó ngôn ngữ truyền hình có thế mạnh đặc biệt bởi ngôn ngữ truyền hình là một phức hợp gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ âm thanh và ngôn ngữ hình ảnh. Rút gọn lại ngôn ngữ truyền hình có 2 thành tố cơ bản cấu thành là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ hình ảnh. Hình ảnh cần có sự đưa đẩy, dẫn dắt của lời nói để chuyển tải những cảm xúc, suy nghĩ phức tạp sâu sắc nội tâm mà hình ảnh không thể hiện được. Ngược lại hình ảnh hỗ trợ, bổ sung cho lời nói thêm sinh động, cụ thể – hai thành tố đó tác động tương hỗ tạo nên sự hấp dẫn mà các loại hình báo chí khác không có được. Vì vậy sẽ là tai hại nếu lời nói không ăn nhập, logic và thích hợp với hình ảnh – nhất là những lời nói dễ dãi, bình luận vô lối vô duyên “cắt đứt mạch” của hình ảnh?

Bởi trong ngôn ngữ truyền hình có ngôn ngữ âm thanh nên phát thanh viên, phóng viên, biên tập viên, người đối thoại, người dẫn chương trình... trên truyền hình lời nói, âm thanh phải có tính chuẩn mực cao: không thể chấp nhận người đó nói lắp, nói nhịu, nói đầy lưỡi, nói quá nhanh hoặc ề à đệm nhiều hư từ vô nghĩa nghe rất khó chịu. Dù là trực tiếp đối thoại với một người hay nhóm cộng đồng hoặc gián tiếp người nói trên truyền hình phải luôn đặt mình trong tâm thế đang đứng trước công chúng để tự mình có ý thức trách nhiệm về những lời nói của mình. Người thực hiện chương trình không thể nói một cách tùy hứng, chen tiếng Anh để tỏ ra hiểu biết, khoe khoang; cũng không thể dùng từ ngữ bay bổng, trừu tượng như văn chương thơ ca hoặc ngược lại dùng ngôn từ tự nhiên trần trụi như văn nói. Không sử dụng những từ ngữ tối nghĩa, đặc biệt kiêng kỵ dùng thứ ngôn ngữ suồng sã, “bỗ bã” của một bộ phận trong xã hội. Nói tới ngôn ngữ chuẩn yêu cầu người nói, người viết phải đảm bảo tính chính xác, đúng đắn: tức là phải đúng nghĩa của từ được ghi trong phần từ vựng của từ điển, không để người nghe hiểu sai, hiểu lệch nghĩa của từ đó; trong đặt câu phải có các thành phần câu cốt yếu, cần thiết để làm rõ ý tứ của câu; phát âm phải chuẩn không làm sai lệch sự lĩnh hội của người nghe. Trong diễn đạt không dài dòng văn tự, “dây cà ra dây muống” sai chính tả, lủng củng về ngữ pháp. Từ ngữ càng dễ hiểu, câu càng ngắn càng tốt.

Đối với người nói trên truyền hình phải luôn phấn đấu để đạt trình độ cao hơn – đó là sự sinh động, hấp dẫn. Để có được kỹ năng đó người nói cần phải có thói quen dùng thứ ngôn ngữ trong sáng có chọn lọc và giàu tính biểu cảm. Đồng thời biết sử dụng các phương pháp ứng khẩu một cách có văn hóa vừa tinh tế vừa dí dỏm tạo nên sự gần gũi với cộng đồng. Ở đây muốn nhấn mạnh rằng không quá khe khắt một cách cứng nhắc nhất nhất phải luôn đúng như niêm luật của văn viết – vì như vậy chương trình sẽ khô cứng thiếu hấp dẫn. Trong ngôn ngữ truyền hình cho phép người nói tung hứng, diễn đạt một cách phóng túng như văn nói trong một văn cảnh, mức độ nào đó thích ứng nhưng không tới mức sống sượng thiếu nghiêm túc.

Ở đây cũng xin đề cập tới sự thắc mắc của một số người yêu cầu tiếng nói trên truyền hình phải là duy nhất theo chuẩn tiếng phổ thông – mà cụ thể là tiếng Hà Nội. Xin nói ngay đó là một sai lầm, thêm vào đó tiếng Hà Nội cũng không chuẩn 100%. Ví dụ như sự phân biệt giữa âm s và x thường giống nhau, giữa tr và ch, r và d... Truyền hình thuộc lĩnh vực tuyên truyền, văn hóa xã hội vì vậy cần phải có cách ứng xử công bằng cho mọi ngôn ngữ của dân tộc, vùng miền, không áp đặt lời nói của địa phương này cho địa phương kia. Trước hết phải: 1/ Tôn trọng ngôn ngữ của cộng đồng dân cư vùng đó (có lịch sử lâu đời gắn với lịch sử môi trường tự nhiên và xã hội của vùng đất đó). 2/ Phải bình đẳng không phân biệt Trung ương với địa phương, dân tộc, vùng miền. 3/ Việc cho phép ngôn ngữ cộng đồng dân cư các vùng miền khác nhau trên truyền hình, chấp nhận những phương ngữ để người dân các vùng miền, dân tộc khác làm quen với lời ăn tiếng nói của nhau, để các dân tộc xích lại gần nhau tạo nên sự đoàn kết gắn bó, xóa đi những khác biệt, rào cản về ngôn ngữ, tiếng nói tạo sự đồng cảm, đồng thuận trong xã hội.

Những sai sót, lầm lỗi của người nói trên truyền hình có nguyên nhân sâu xa ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường do lỗi từ người thầy không uốn nắn, chăm chút kỹ lưỡng cho học sinh về ngôn ngữ tiếng Việt; cũng có thể là trình độ của thầy cô có hạn và phương pháp dạy chưa chuẩn mực, chưa đạt yêu cầu. Khi họ ra công tác xã hội trong một môi trường cần diễn đạt chuẩn xác như phát thanh, truyền hình không chịu khó theo dõi, học tập, rèn luyện rút kinh nghiệm, sửa sai nên không nâng trình độ lên được – nhất là trong các chương trình trực tiếp tại chỗ các sự kiện dễ mắc các sai sót ngôn từ và lời nói không nhuần nhuyễn (do không có sự biên tập trước).

Năm 1970 khi thí điểm làm truyền hình và cả một thời gian dài người làm trong truyền hình 100% là từ cơ quan các đài phát thanh, báo chí, bộ đội, thanh niên xung phong giải ngũ và các thành phần khác chuyển sang không chỉ không được đào tạo bài bản về truyền hình mà ngay cả kiến thức nền cơ bản về khoa học xã hội cũng không có hoặc không đạt trình độ cao đẳng, đại học. Mãi sau này Đại học Báo chí, tuyên truyền mới có khoa truyền hình non trẻ mà bản thân thầy cũng “tay ngang” tự mày mò soạn bài giảng. Anh chị em trong đài truyền hình tự tìm tòi học hỏi lẫn nhau nên có nhiều hạn chế. Mặt khác sự luân chuyển nhân sự tùy tiện từ bộ phận này sang bộ phận khác không có sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ về chuyên môn, nghiệp vụ. Hôm trước còn là phát thanh viên mục Dự báo thời tiết hôm sau đã thấy gắn danh hiệu “Biên tập viên” đọc bài, phỏng vấn, dẫn chương trình, thao tác nghiệp vụ trên thực tiễn? Do chưa đủ trình độ, chưa được tiếp cận và tham gia công việc của phóng viên, biên tập viên và sự hiểu biết thực tiễn nên kiến thức tổng hợp non yếu không có chiều sâu, diễn đạt lúng túng, ngôn từ không chuẩn, không đạt về sự nhuần nhuyễn và thiếu sự truyền cảm.

*

Những ngày qua trên báo chí lại xuất hiện những bài viết về tiếng Việt trong sách trong chương trình cải tiến dành cho lớp 1. Đồng thời cũng nhắc lại chuyện Ts. Bùi Hiền đề nghị cải cách tiếng Việt thay các nguyên âm, phụ âm và chữ cái – mà trước đó đã bị nhiều nhà khoa học và báo chí lên tiếng phản đối quyết liệt… Vì sự kiện đó tôi chợt nhớ cách đây 4, 5 năm gì đó tôi không nhớ chính xác có bài báo Thảm họa tiếng Việt trên các phương tiện truyền thông đại chúng của nhà báo Đinh Đức Cần đăng trên Văn nghệ Công an và Báo điện tử Công an nhân dân đã gây nên sự sôi động được phản hồi bằng hàng trăm ý kiến bình luận, đồng tình. Bài báo đó tác giả hơi “nặng tay” phê phán và chỉ ra những sai sót rất cụ thể. Tuy nhiên theo dõi các chương trình truyền hình gần 5 năm qua tôi thấy sự tiến bộ chậm chạp và chưa nhiều. Trong thời gian đó đã có nhiều cuộc hội thảo, trao đổi, nghiên cứu, góp ý về vấn đề ngôn ngữ truyền hình. Những sai sót hiện nay chủ yếu vẫn là những “bệnh” cũ: Sai chính tả, sai ngữ pháp, lạm dụng tiếng Anh, dùng quá nhiều hư từ vô nghĩa, dừng từ đệm “à, vâng, à vâng, ờ...” khá phổ biến, tùy tiện trong sử dụng từ thiếu chuẩn xác làm méo mó tiếng Việt – thậm chí phản cảm – cùng những thêm thắt bình luận vô duyên, lối diễn đạt không thích hợp với bối cảnh thực tiễn...

Đã có nhiều kiến nghị, đề nghị từ phía ngành ngôn ngữ, hội nhà báo và những cơ quan có liên quan nhưng rồi lại chìm xuống như “ném đá ao bèo”. Vấn đề trầm trọng tới mức có những ý kiến (trong đó có cả đại biểu Quốc hội) đề nghị đưa ra Quốc hội bàn bạc, xem xét cho ra đời một Văn bản quy phạm pháp luật về Ngôn ngữ tiếng Việt: Luật Ngôn ngữ hay Chính tả gì đó? Nhưng lúc tức điên lên thì nói thế thôi, sau hội thảo, hội nghị dần chìm xuống chẳng có văn bản nào ra đời? Thấp hơn ra luật có ý kiến đề nghị phải ban hành những văn bản quy định có tính chất chế tài trong việc xử phạt vi phạm các chuẩn mực của tiếng Việt trên các phương tiện truyền thông đại chúng để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Kiên quyết loại bỏ các chương trình phát sóng kém chất lượng, vi phạm các chuẩn mực làm méo mó ngôn ngữ tiếng Việt trái với thuần phong mỹ tục dân tộc...

Nhưng những đề nghị rất “gan ruột” nhằm cải thiện ngôn ngữ truyền hình chỉ như những khẩu hiệu hô hào, những nhắc nhở, khuyên răn, chê trách hay phê phán nhẹ nhàng không đủ “liều” thuốc chữa trị. Thi thoảng có một vài bài báo “nhặt sạn” chẳng mang lại hiệu quả nào. Vì vậy cần phải mạnh tay và cụ thể hơn nữa bằng các biện pháp hiệu quả thường xuyên hơn. Đó là yêu cầu các cơ quan báo chí, truyền thông cần xây dựng cơ chế, chế độ cụ thể đối với phóng viên, biên tập viên, người nói trên truyền hình trong việc sử dụng tiếng Việt. Có chế độ khuyến khích, khen thưởng cho những người viết chuẩn, nói chuẩn có sự sáng tạo trong sử dụng và phát triển ngôn ngữ làm giàu tiếng Việt. Xử phạt nghiêm các cá nhân sử dụng tiếng Việt tùy tiện, không chuẩn làm hư hỏng, méo mó và gây phản cảm... thậm chí nếu vi phạm vài lần có thể sa thải. Không thể nhân đạo với một người, vài người mà làm hỏng tiếng Việt, làm hại các thế hệ trong sử dụng tiếng Việt lệch chuẩn.

Gợi mở, khơi dậy một phong trào sâu rộng trong xã hội góp ý nhằm hạn chế tiến tới đẩy lùi hẳn việc dùng tiếng Việt sai sót, méo mó thiếu chuẩn mực trên báo chí, truyền thông, truyền hình. Từ đó tổng kết đề ra một số quy định có tính chất bắt buộc về mặt nghiệp vụ tùy theo tính chất từng thể loại tuyên truyền. Với mỗi cơ quan báo chí, truyền thông cần có một bộ phận có hiểu biết, năng lực về ngôn ngữ thường xuyên quan tâm, chăm lo huấn luyện, trau dồi kiến thức, chỉnh sửa ngôn ngữ cho phóng viên, biên tập viên qua từng bài báo, ấn phẩm, số báo, chương trình phát thanh, truyền hình của đơn vị mình; đồng thời có lịch cụ thể để sinh hoạt, trao đổi nghiệp vụ về vấn đề sử dụng ngôn ngữ Việt. Vừa qua Truyền hình Việt Nam tổ chức Kỷ niệm 50 năm ngày ra đời và nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước. Đã nửa thế kỷ đâu có ngắn mà vẫn để tồn tại những sai sót như nêu trên là khó có thể chấp nhận. Lãnh đạo ngành truyền hình cần phải suy nghĩ ra tay quyết liệt để sửa sai. Nếu dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật và cầu thị hãy lên tiếng thông cho khán giả một hộp thư góp ý chắc chắn sẽ nhận được nhiều ý kiến chân thành, quý giá từ phía khán giả. Những người mắc sai sót bị nêu tên sẽ nhanh chóng nhận ra những khiếm khuyết của mình sẽ sửa chữa ngay – đó là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất. Chỉ với những giải pháp đồng bộ và mạnh tay may ra trong một thời gian mới hy vọng sửa chữa, ngăn chặn, đẩy lùi những sai phạm phổ biến trên truyền hình nói riêng và các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung hiện nay.

Nguồn Văn nghệ số 3/2021

Tin liên quan

Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh: Văn học phi hư cấu được tôn vinh

Trong ba tác giả được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Tp. Hồ Chí Minh năm 2020, điều bất ngờ là hai ...

Có một Bình Dương như thế

Có một Bình Dương là tập trường ca thứ sáu của Nhà thơ, Nhà báo, Đại tá Lê Anh Dũng, sau các tập trư ...

Đề tài chiến tranh và người lính trong văn học hôm nay*

Xét trên phương diện đề tài, có một thực tế trong đời sống văn học nước nhà thời gian gần đây, đó là ...

Nhập cuộc cùng văn chương

Bất chấp sự “lép vế” của văn chương trong đời sống hiện nay, người yêu văn và đến với văn chương vẫn ...

Kỹ năng cơ bản trong sáng tác: Nhẫn nại, chăm chỉ và cảm xúc

Mary Oliver (1935-2019) là nữ thi sĩ Mỹ nổi tiếng, từng đoạt giải Pulitzer, Giải thưởng Sách quốc gi ...

Truyện ngắn – Chất liệu của điện ảnh

...Mỗi chúng ta đều biết rằng, ngoài truyện ngắn thì nhiều thể loại khác cũng có những lợi thế nhất ...

Về cuốn tiểu thuyết lịch sử mới nhất lấy Chủ tịch Hồ Chí Minh làm nhân vật trung tâm

So với các cây bút viết tiểu thuyết lịch sử như Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quảng Uyên, ...

Thư pháp và nét đẹp khai bút đầu xuân

Đón mùa xuân về là chào đón những điều tốt đẹp, thiêng liêng và trang trọng đến với mỗi người. Thư p ...

Thanh Đàm – nơi thương nhớ cũ

Ông là Võ Quyết, sinh năm 1922 tại xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình nô ...

Sống thế nào để tự tin kể lại trong hồi ký?

Cuốn hồi ký Gánh gánh gồng gồng của đạo diễn Xuân Phượng được trao giải thưởng văn xuôi của Hội Nhà ...

Mùa Xuân, hát đối: Buổi đầu học thuật của Nguyễn Văn Huyên

Mùa xuân, chính xác là ngày 17 tháng 2 năm 1934, Nguyễn Văn Huyên, lúc bấy giờ mới 29 tuổi, đã bảo v ...

Xuân trong thơ Hàn Mặc Tử

Mỗi lần đọc thơ Hàn Mặc Tử, tôi thấy bâng khuâng hoài, không hiểu mơ hay là thực, mộng hay là ảo… Cá ...