Nghìn câu ca dao “ế”


 

Năm ấy để chuẩn bị kỷ niệm 970 năm Thăng Long Đông Đô Hà Nội, đồng chí Bí thư Thành uỷ Lê Văn Lương chỉ thị Hội Văn nghệ Hà Nội phải cử người đi sưu tầm ca dao tục ngữ bốn huyện ngoại thành thuộc vùng châu thổ sông Hồng có liên quan đến trầm tích văn hoá Thăng Long xưa và Hà Nội ngày nay… Cuộc họp kết thúc, nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn đã đưa quyết định cho tôi và nói: “Cơ quan xét thấy đồng chí Chử Văn Long là người có năng lực có thể hoàn thành trọng trách này…”.

Như bị nhát búa vào gáy, bởi theo tôi hiểu, có câu ca dao hay nào nhà văn Vũ Ngọc Phan đã tuyển chọn trong Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam rồi, còn đâu mà sưu tầm. Nhưng còn biết nói sao? Cái tính bất cẩn bẩm sinh lại cuộn máu lên đầu, tôi chấp nhận cầm tờ quyết định chẳng cần biết sẽ chèo chống ra sao. Hãy cứ biết từ mai đỡ mỏi đôi chân đạp xe gần năm chục cây số hàng ngày đi làm.

Thế là con chim được xổ lồng xuôi ngược kiếm sống quên bẵng mọi điều, cuối tháng đến lĩnh lương một lần… Ba tháng vút qua, chưa có một câu ca dao, tục ngữ nào trong “bị”, tôi bắt đầu lo, vội gói ghém việc gia tư lại để “khoác bị” lên đường. Tôi đã la cà qua những quán nước gốc đa, bến sông, đầu chợ, rồi tìm vào uỷ ban nhân dân xã, xin gặp các vị cao niên, có tiếng biết ca hát, văn nghệ từ xưa. Đầu tiên là huyện Thanh Trì, sang Từ Liêm, lên Đông Anh… chân mỏi, gối chồn, bụng đói; càng thấy điều mình nghĩ là đúng. Có câu ca dao tục ngữ giá trị nào đều đã có mặt trong Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của nhà văn Vũ Ngọc Phan rồi, còn các câu ca dao chất lượng làng nhàng về làng nghề, địa danh thì đã được gom vào những tập riêng cho từng vùng đất của những tác giả Chu Hà, Giang Quân… Tôi đành “bị” rỗng, buồn nản quay về. Nhưng báo cáo điều này với cơ quan thì ai chấp nhận, khi người ta quyết định cho mình đi sưu tầm ca dao nghĩa là phải có ca dao mà mang về…

Một hôm, tôi có việc phải qua sông Hồng thăm bà dì ruột lấy chồng bên Văn Giang - Hưng Yên. Đò cặp bờ, một bà sắp xuống thuyền, nắm lấy tay người bạn gái ngày xưa vừa bước lên bến, ríu rít mãi không rời. Cảnh sông nước, đò giang khiến hồn tôi từ lúc xuống đò bâng khuâng rạo rực, giờ đứng trước cảnh tình này bỗng thốt nên câu: Sông Hồng nước đỏ như son/ Đầu sông cuối bến có còn nhớ nhau.

Từ lúc ấy, đến buổi chiều trở về, tôi chưa tin hẳn đó là câu ca dao của mình. Về đến nhà, tôi lục tìm, lần giở từng trang Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, không thấy câu nào giống vậy.

Đêm ấy, bồn chồn, xúc động không sao ngủ được. Khuya, lại ngồi bật dậy giở sách đọc. Tình cờ gặp đoạn người xưa kể, Nguyễn Du thời còn trai trẻ đi hát phường vải đã ứng tác nhiều câu cho các cô gái Trường Lưu và những chàng trai hát đối đáp nhau. Như cậu học trò đang bí trước đề thi được người gợi ý mách nước cho mình: Ngày xưa làm được vậy, mình cũng thử ứng tác xem sao!

Tôi hồi hộp lấy bút mực, và viết được câu đầu tiên: Mình ra sống với thị thành/ Còn yêu trăng sáng quê mình nữa không?

Rồi câu thứ hai: Anh về xẻ ván đóng thuyền/ Nửa mai dang dở ai đền công anh

Câu thứ ba, thứ tư lần lượt ra đời: Gió đồng chẳng thổi hương đồng/ Thổi vào trong phố cho lòng ngổn ngang/ Người đi để nhớ để mong/ Bao giờ trở lại cho sông bớt đầy.

Đêm ấy thức thông luôn đến sáng, viết, gạch xoá, sửa chữa, lại viết lại, đã có được vài chục câu như: Con cua, con cáy, con còng/ Nhớ thương thì cũng một làng cả thôi/ Khói rơm ai đốt lên trời/ Để người xa cách lặng ngồi nhớ quê/ Tình tang mình hát mình nghe/ Cớ sao ai đấy lại mê tiếng mình/ Yêu chồng sao lại không ghen/ Để chồng đi sớm, về đêm mất chồng/ Thương nhau mài lưỡi dao bầu/ Để ta cắt hết oán sầu từ xưa/ Quả bầu là quả bầu tròn/ Lòng khô dạ héo vẫn còn vương dây/ Ai sinh ra cái chuông kêu/ Để rồi chuông đánh sớm chiều bính boong.

Hôm sau trở đi, ở đâu, làm gì tôi cũng thủ sẵn trong túi mẩu bút chì vót cẩn thận và mấy tờ giấy gấp nhỏ (thời đó bút bi rất hiếm). Có ngày, vô tình làm gẫy mất đầu chì, tôi đã đập vỡ vỏ gỗ, dùng giấy cuộn ruột chì lại. Có lúc hết giấy phải dùng vỏ thuốc lá, mẩu giấy vụn học sinh để viết. Nhiều hình ảnh trước mắt được ghi lại thành những câu rất gần gũi với đời sống quanh mình. Rồi nỗi nhớ, hồi ức những năm tháng qua… Những cảnh đẹp làng quê từ thuở chập chững vào đời, những con người ở làng quê nghèo nhưng không tham lam, gian giảo. Khó mà không cùng quẫn dúm dó. Tâm hồn, nụ cười, gương mặt của họ còn in đậm trong tôi vẻ đẹp trong lành đã hoá thân vào những câu ca dao.

Tôi nhớ đến ngày tết thường tụ hội gái trai cùng đánh chung trên một bàn đu… bổng vút lên trời, có nhiều cặp đu đôi ấy đã thành chồng, thành vợ. Rồi những ngày tháng đi thanh niên xung phong, xa nhà, nhớ làng quê mình thăm thẳm, chiến tranh, sống chết, đợi chờ, cả một nỗi niềm dằng dặc khôn nguôi. Tôi nhận thấy tình yêu của người Việt Nam mình thật đặc biệt, đó là sự chờ đợi, thuỷ chung. Trai gái thời bây giờ chẳng còn được hưởng hương vị ngọt ngào đắm say như vậy.

Điều giản đơn nhất, có lẽ lại là khó khăn nhất để làm nên những câu ca dao bất hủ là lòng ân tình, nhân nghĩa. Ai chất nặng những tị hiềm, ghen ghét, ganh tị thì đừng bao giờ nghĩ đến chuyện cầm bút viết ca dao.

Những câu ca dao chan chứa tình người nhiều khi lại đồng nghĩa với chất quê mùa dân dã. Ai đã ví những câu ca dao là những viên ngọc quý, thì thứ ngọc này hoàn toàn khác với viên ngọc Rubi vẫn được dùng trang sức ở dây chuyền đeo cổ, hoặc mặt nhẫn ngón tay. Viên ngọc Rubi được tạo nên từ thứ đá đặc biệt quý hiếm, dành riêng cho người giầu có, tước quyền. Còn viên ngọc tuyệt vời trong những câu ca dao chỉ lấp lánh trong tâm hồn người lao động đầy tình người, chân chất, chân quê…

Phân biệt được điều ấy tôi như tìm được mạch quặng ngầm, chỉ còn việc đổ mồ hôi, đào bới…

Hết năm ấy, vai khoác “bị thơ” về trình cơ quan hơn nghìn câu ca dao đã “sưu tầm” được. Hồi hộp đợi chờ ngày thủ trưởng gọi lên nhận xét. Chưa bao giờ tôi thấy ông vui vẻ đến như vậy. Vốn là người rất thận trọng, vậy mà ông đã nói: “Anh có thấy đồng chí Bí thư Thành uỷ rất sáng suốt khi nhìn thấy vẫn còn những câu ca dao tuyệt vời sót lại trong nhân dân cần phải sưu tầm chưa? Và cơ quan cũng đã nhìn ra anh là người có khả năng làm việc này. Đúng là anh đã tìm được những viên ngọc quý hiếm”, và ông nửa đùa nửa thật: “Giả thử, trong đó có câu nào anh tự viết ra, thì tôi vẫn coi đây là tập sưu tầm có giá trị. Tôi sẽ đưa vào kế hoạch xuất bản cho anh năm sau. Đây cũng là thành tích hoạt động của văn phòng Hội”. Hôm sau, ông lệnh cho văn phòng thuê chiếc xe con đoàn 12 (thời ấy các cơ quan chưa có xe riêng), cùng đại diện công đoàn về thăm gia đình tôi, với lý do thăm vợ tôi ốm đau đã lâu mà tôi không cho cơ quan biết. Ông tự tay trao cho vợ tôi 400 đồng, tiền bấy giờ phải bằng mấy triệu hiện giờ, có thể đong được mấy tạ gạo. Ông thân mật nói với vợ tôi: “Đây là tiền cơ quan bồi dưỡng công anh Long đã sưu tầm tập ca dao ngoại thành, chị cầm lấy để bồi dưỡng cho mau lành bệnh. Khi nào tập sách in xong, anh Long còn được hưởng tiền nhuận bút xuất bản nữa”.

Tháng 10 năm ấy, Đại hội Văn nghệ Thủ đô khoá mới. Trong diễn văn, Chủ tịch hội Tô Hoài cũng nhấn mạnh về tập Ca dao ngoại thành có giá trị, khẳng định đây là thành tích mà văn phòng hội đã sưu tầm được… Chẳng may Ban chấp hành khoá ấy, thủ trưởng cũ của tôi không trúng cử. Lãnh đạo mới về thay, không có trách nhiệm in tập ca dao này nữa. Tôi đành đem “nhét bị treo xà nhà”, mặc cho con nhện chăng tơ.

Tôi thật sự cám ơn số phận đã đưa đẩy đời mình qua lắm thác ghềnh khúc khuỷu, để tôi thêm thấm mặn những yêu thương khát vọng làm người, cho tôi xúc động viết được nên hàng ngàn câu để lại, mong góp thêm ngọn lửa tình đời nồng đượm. Và tôi cũng cám ơn cái rủi là tập ca dao bị “ế” ngày trước, không được ra mắt bạn đọc, để hôm nay tôi công khai rằng: “Ngàn câu thương nhớ” này là do tôi viết.

Nguồn Văn nghệ số 26/2020

Tin liên quan

Hàn Quốc và giai đoạn hình thành nền văn xuôi hiện đại

Hợp tuyển văn học Hàn Quốc - tập 1 do Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam ấn hành năm 2020 với sự hỗ trợ củ ...

Bây giờ, văn chương thì để làm gì?

“Bây giờ, văn chương thì để làm gì?”. Khoan trả lời, mà hãy “ngần ngừ” một chút trước câu hỏi “cắc c ...

Biển xanh, xanh mãi, còn xanh

Chuẩn Đô đốc Đặng Minh Hải là người lính biển có tâm hồn thơ. Trước những bộn bề công việc và lo toa ...

Người viết huyền thoại sông nước*

Hơn 30 năm trước, bước vào nghề cầm bút, tôi được về tỉnh Vĩnh Long, tham gia trại viết đồng bằng sô ...

Những chuyển động của hiện thực tinh thần

Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều, có thể nói, ông đã “đùa nghịch” với vùng - đất - tâm - hồn của mình và “ ...

Chữ, một đời sống khác

Chúc phúc lá xanh là tập thứ 5, sau 4 tập thơ đã xuất bản từ năm 1988 của Lê Xuân Đố. Từ bấy đến giờ ...

“Chẳng có gì qua mất đâu anh”

...Câu thơ giản dị, chân thật mà khiến tôi giật mình: Nguyễn Thanh Kim là thế đấy, ẩn sau vẻ bên ngo ...

Về bài thơ "Cơn mưa rừng chiều nay"

Nhiều năm qua, hàng nghìn cuộc đi tìm mộ liệt sĩ, cũng là hàng nghìn trường hợp khác nhau. Dễ dàng, ...

Những tấm gương nữ liệt sĩ trong thơ

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những tấm gương nữ liệt sĩ đã gây xúc động và cảm ...

Tổng tập Nhật ký thời chiến Việt Nam

Vào dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, một nhóm các nhà văn và cựu chiến ...

Những hạt ngọc đáng trân trọng

Được là con dân xứ Vĩnh Lại xưa, nay mang tên Vĩnh Bảo, quê cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với một ...

Đọc Thư gửi Mẹ trong ngày linh thiêng

...Thật cảm động khi chúng ta đọc lại bài thơ “Thư gửi mẹ” của Trần Đăng Khoa trong ngày đặc biệt nà ...