Mưa qua bóng nắng


Căn nhà ấy (27A Thi Sách, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), tôi vẫn hằng lui tới. Có điều từ ngày cô mất, tôi cố tránh những trường hợp phải đặt chân lên gác thượng, nơi để bài vị và di ảnh cô. Cô là Nguyễn Mai Hương, cái tên gợi nhắc về một ban mai thoảng thơm hương tinh khiết…

Nhà thơ Vương Tùng Cương

Nhớ lại, một chiều Đông năm 2008, tôi lần đầu tiên gặp cô. Cô thanh nhã bên người đàn ông có dáng thấp đậm, đeo kính râm, trông mặt dữ dằn như một bưởng trưởng, mới từ Hà Nội vào Đà Lạt. Người đàn ông đi cùng cô chẳng phải ai xa lạ, chính là nhà thơ Vương Tùng Cương, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Trước kia, Vương Tùng Cương là tay buôn cám vàng, đô la có số. Thế rồi, sau một biến cố lớn, người con trai duy nhất qua đời, Vương Tùng Cương trở thành con người khác, đốc chứng, nói năng văng mạng, đuổi thẳng cổ những bạn buôn quen đến nhà: “Ở đây, không có vàng, không có đô la. Giờ, chỉ có rượu và thơ”. Thơ là những gì còn lại sau tất cả, hay nói đúng hơn, thơ là nơi tì vịn cuối cùng để Vương Tùng Cương đi qua những dằng dặc sạt lở, thức trắng đắng đau: “Gà gáy loang dần chó sủa bóng xa/ Đêm trở trời cá động ao bì bõm/ Nghe hoang vắng tiếng vạc xa tìm bạn/ Người kéo vó khuya ho thúng thắng tuổi già”.

Cô giạt vào đời Vương Tùng Cương khi cuộc hôn nhân giữa cô và chồng đang ở chặng cuối cuộc hành trình xót buốt, bằng cái cách của người đàn bà đa đoan đúng nghĩa. Tôi nói vậy là bởi chỉ có sự đa đoan mới đủ nghiệp căn dắt dẫn cô bước vào con đường mà phần lớn người đời đều ra sức né tránh. Khi ấy, cả cô và Vương Tùng Cương cũng không còn trẻ nữa để nói rằng bồng bột. Hai người lúc này đều đã trải qua những hạnh phúc lẫn đắng đau riêng trong cái nơi vẫn được người đời khoác cho mỹ từ tổ ấm. Tuy vậy, tôi không coi đấy là sự vi phạm đạo đức. Ngược lại, tôi thầm ngưỡng mộ sự... vi phạm ấy.

Trước kia, cô yêu rồi đi đến hôn nhân với một người đàn ông đã là bố của hai đứa trẻ, đang sống cảnh gà trống nuôi con, theo những gì con tim cô cho là đúng, cần phải làm, không hề toan tính thiệt hơn, không sợ cả những eo sèo dư luận. Quyết định có phần... khó hiểu này, cũng chỉ có thể lý giải được nhờ... đa đoan luận. Tất nhiên, một cuộc hôn nhân như thế, chắc chắn khó tránh khỏi hành trình có lắm điều ê chề. Bởi ngay từ đầu nó đã không phẳng phiu theo khuôn phép sự chỉnh chu thông thường, mà đầy ứ những ghềnh những thác những trắc trở chông chênh. Ngày tiễn cô về nhà chồng, yêu và hiểu con gái, mẹ cô chỉ cười: “Cái phận đàn bà nó vốn sẵn đa đoan rồi con ạ! Con còn rước cái nợ văn chương chi cho khổ nó lận thêm vào thân”. Cô cũng cười, một nụ cười vừa biết ơn đấng sinh thành, vừa thông tỏ trách nhiệm, kiểu như “đã mang lấy nghiệp vào thân”.

Thông tỏ nghiệp căn không có nghĩa trong quá trình chung sống với chồng, cô và chồng không có những va vấp, sấp ngửa, hoang lạnh. Thậm chí, chính sự thông tỏ về nghiệp căn ấy, khiến cô phải trải qua nhiều gió sóng hơn, chịu nhiều đổ vỡ hơn, ưu ấp nhiều vết thương hơn. Nhưng nhờ đó cô cũng sống đầy hơn, dày hơn, sâu hơn, đa diện hơn.

Cô quen biết Vương Tùng Cương trong lần đến bệnh viện thăm một người thân bị ung thư. Bấy giờ, Vương Tùng Cương đang chăm vợ bị bệnh ung thư ở đấy. Nhìn người đàn ông tiều tụy vì ngày đêm săn sóc vợ, tự dưng cô cảm thấy xa xót. Chính cái tâm chất đầy nhạy cảm trắc ẩn đó đẩy cô giạt vào đời Vương Tùng Cương. Song điều ấy cũng có nghĩa tình thương người trong cô chiến thắng mọi sự, chở che mọi sự, dưỡng nuôi mọi sự. Tôi tin chắc rằng, nếu gặp Vương Tùng Cương trong trường hợp của cô, không ít người sẽ ba chân bốn cẳng rồi chạy cho thật xa, vì ngại bị liên lụy, vì sợ phải nặng gánh cưu mang.

Tôi quý và ngưỡng mộ cô cũng vì thế!

Từng là học sinh giỏi văn rồi trở thành giáo viên dạy văn, thế nên việc cô biết nhiều về tác giả, biết sâu về tác phẩm văn chương không những cần thiết cho nghề nghiệp. Vì nó làm dày thêm kiến văn, nâng tầm chiều kích văn hóa, giúp quá trình giảng dạy thẩm được sâu hơn cái mã ADN nghệ thuật ẩn sau con chữ cũng là điều dễ hiểu và càng dễ hiểu hơn khi nó là những gợi khơi để cô sáng tạo tác phẩm văn học. Trong số những tác phẩm văn học cô tiếp xúc, có thơ của Vương Tùng Cương.

 Thơ Vương Tùng Cương như tương cà, như dưa muối, như đồng đất cố xứ hoang vỡ lời bà lời mẹ, lời chị lời em. Tất cả những yêu tin, ủ ấp từ nắng mưa, rạ rơm, tro trấu, từ sạt lở đắng đau đời bà, đời mẹ đã được Vương Tùng Cương lặn sâu, cày vỡ, thốc thới trong thăm thẳm cội rễ đất đai, làng mạc và rồi như một lẽ tự nhiên nó cất lên tiếng nói đậm chất chai rám, kiểu lời ăn tiếng nói người nhà quê nguyên khối, đẫm mùi bùn trong từng thớ thịt. Tất nhiên, trong tiếng nói thơ Vương Tùng Cương, không thể thiếu ảnh xạ người mẹ, với nắng sương cháy bạc lưng sờn vai áo. Do vậy, yêu thơ Vương Tùng Cương cũng có thể coi là yêu làng xưa, yêu người xưa. Bởi trong thơ Vương Tùng Cương có đủ những số phận, những cuộc đời thôn dân bện chặt vào đất đai ruộng đồng nên đẹp một cách khốn nạn: đẹp tận cùng và truân chuyên cũng đến tận cùng. Thế nên, người không hợp cạ, có thể do khác biệt về khẩu vị và cũng có thể do thiếu vốn tâm thức làng, thì rất dễ nản lòng và thể nào cũng ngoảnh mặt quay đi trước thơ Vương Tùng Cương. Còn người hợp cạ thì say thứ thơ ấy đứ đừ, không tài nào rứt ra được, như người nghiện thuốc lào nặng. Cô rơi vào trường hợp thứ hai. Từ đó, có một truyền thuyết tình yêu thời hiện đại được cô và Vương Tùng Cương viết nên không chỉ trong thơ mà còn ở ngoài đời thực. Nhưng rồi căn bệnh ung thư quái ác mà cô mắc phải sau đó, khiến cho truyền thuyết tình yêu giữa hai người chỉ còn là ký ức được neo đậu trên bến bờ giả tưởng của hiện thực, khi thể phách và tinh anh của cô đã thoát nắng tan loãng vào gió - nắng - trăng - sương Đà Lạt trong năm 2013.

Chiều nay, chẳng hiểu sao tôi lại tha thẩn đặt chân lên gác thượng, tay run run lần giở những trang viết cô để lại, rồi chợt nhận ra có một cái tôi vẹn nguyên được cô giấu đằng sau câu chữ. Ở đấy, sướng - khổ, được - mất, khôn - dại, đúng - sai, theo cách nghĩ của người đời, đối với cô chẳng còn nhiều ý nghĩa. Ở đấy, cô có một cuộc đời đáng sống. Văn chương giúp cô thực thi những mơ ước, khỏa lấp những nỗi niềm riêng, chữa lành trái tim người đàn bà đa đoan, luôn lấy sự che chắn làm nghiệp dĩ đời mình. Tôi còn nhận ra trong những trang văn đọng lắng, tự ngân từ trái tim người đàn bà đa đoan ấy, có sự an nhiên rơi thoảng trong tiếng kinh siêu độ, trắng tinh khôi màu miên hương.

Nguồn Văn nghệ số 9/2021

Tin liên quan

Lỗ Tấn với văn học Nga và Xô viết

Nhiều nhà văn Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng của văn học Nga và văn học Liên Xô, nhưng nói về mối quan ...

Thổi hồn vào ký

...Hoàng Phủ Ngọc Tường “đã chọn bút ký là thể loại văn xuôi tiêu biểu… (là) duy nhất và không thể t ...

Hội sách xuyên Việt, góp tiếng nói chống sách giả, sách kém chất lượng

Nhằm lan tỏa giá trị của văn hóa đọc, đồng thời góp phần chống nạn sách giả bán tràn lan khiến người ...

Hội nghị triển khai công tác Văn học năm 2021: Đẩy mạnh xã hội hóa để có những tác phẩm văn học đỉnh cao

Sáng ngày 14/4 tại trụ sở Hội Nhà Văn Việt Nam, BCH Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Hội nghị triển k ...

Nhạc sĩ Doãn Nho: U90 vẫn sung sức lạ thường

Trong số các nhạc sĩ được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật còn sống (Phạm Tuyên, Trọn ...

''Sách và Trí tuệ Việt'' thúc đẩy nền văn hóa đọc

Kênh “Sách và Trí tuệ Việt” hướng đến phục vụ từ xa cho người đọc không có điều kiện tiếp xúc với sá ...

"First Person Singular" của Murakami ra mắt vào tháng 4

"First Person Singular" gồm 8 truyện ngắn viết về thế giới nội tâm của đàn ông bắng tiếng ...

Dạo bến sông thơ

Khi Nguyễn Thế Hùng ra mắt tập thơ đầu tay Mượn lửa mặt trời, không ít bạn văn, độc giả ngỡ ngàng bở ...

Một trường lực văn chương

Tôi “gặp” nhà thơ Anh Chi lần đầu vào mùa thu năm 1977, trên trang nhất báo Văn nghệ với hai bài thơ ...

Ấn bản ‘Superman’ xuất bản năm 1938 được bán với giá kỷ lục

Theo công bố của công ty ký gửi và đấu giá trực tuyến ComicConnect.com ngày 6/4, ấn bản Action Comic ...

Chúc mừng các tác giả đoạt giải Cuộc thi Thơ (2019 -2020) trên báo Văn nghệ

Cuộc thi Thơ do Báo Văn nghệ tổ chức kéo dài trong 2 năm ( 2019 - 2020) đã thu hút trên 3.500 tác gi ...

B. Brecht: Người không chết trong một nền văn học nhân bản

Tôi được đọc B. Brecht lần đầu tiên vào giữa thập niên sáu mươi, lúc đang học tại Viện Goethe ở Muen ...