Mãi một nghiệp văn


Gặp ông trong một chiều cuối tuần của một ngày đầu đông trong căn hộ nhỏ mà ông được Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phân cho từ năm 1985 ở khu tập thể 51 Cẩm Hội, PGs-Ts Phạm Quang Long cười rất vui, ông vội rời máy tính để tiếp “đồng môn” (cách ông khiêm tốn gọi tôi là vậy). Biết ông đã được xếp vào hàng U70 nhưng vẫn nguyên vẻ nhanh nhẹn tôi bèn hỏi luôn “Thầy có nhận xét gì về quãng thời gian công tác ở Hà Nội?”. Phạm Quang Long nói ngay “Thời gian làm việc ở Hà Nội đã cho mình rất nhiều tư liệu sống, nó kích thích văn chương trong người mình, kích thích ham muốn viết, kích thích được tranh luận, được giãi bày bởi những gì ở Hà Nội đã cho mình quá nhiều nghĩ suy”. Tôi chỉ còn biết gật đầu - “Thảo nào những trang tiểu thuyết của thầy đầy trăn trở nhưng cũng đầy trách nhiệm…”.

PGS.TS. Phạm Quang Long

 

Trước khi hòa vào với biển con sông Hóa chảy ngang qua cánh đồng thôn Hòa Đồng. Những tưởng miền quê lúa yên ả ấy sẽ mãi êm đềm vậy mà mới chỉ lên hai tuổi cậu bé Long đã chứng kiến cảnh cha mình, một du kích xã Thụy Việt huyện Thụy Anh (Thái Thụy sau này), bị giặc phục kích bắn chết ngay tại vườn nhà. Cái chết của người cha chỉ trước ngày hòa bình vài tháng thực sự là một tổn thất không gì thay thế được. Rồi vào đúng năm kết thúc phổ thông (1970) thì từ chiến trường Quảng Trị đưa về tin dữ, người anh trai Phạm Quang Thăng hy sinh. Chàng trai trẻ Phạm Quang Long đã tính đi học 10+1 để mong được ở lại quê nhà dạy học để đỡ đần mẹ và cũng là kế mưu sinh khả dĩ nhất bấy giờ. Hay tin cậu học trò giỏi văn của mình toan tính như vậy, thầy Bùi Đăng Chinh vội tìm đến nhà để để động viên Long học lên đại học.

Nghe theo lời thầy dạy và lại được sự khuyến khích của người chú nên Phạm Quang Long rời quê lúa Thái Bình nhập học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cậu học Khoa Ngữ văn. Ước mơ văn học mở ra trước mắt hệt như câu thơ cậu học trò tên Long đã viết ngày nào “Ánh trăng rằm sáng quá/ Soi sáng trên đường làng/ Ánh trăng rắc bao vàng/ Trên mặt sông im lặng”. Trong ký ức của mình, hình ảnh từng chiếc thuyền căng buồm đón gió trên dòng sông Hóa, mải miết xuôi ra biển, vẳng lại đôi bờ những câu hò man mác, còn gợi mãi. Có lẽ đam mê văn học và ước muốn học văn xuất phát từ niềm khát khao vươn xa đó. Trong ký ức của mình, hình ảnh người mẹ quê hương tảo tần lam lũ, chỉ một tình thương dành cho con còn sâu đậm mãi, để rồi chàng sinh viên trẻ khi bắt gặp bài thơ của Trần Vàng Sao cứ có cảm giác như ông viết cho cảnh ngộ chính mình “Tôi yêu mẹ tôi áo rách/ Năm nay ngoài năm mươi tuổi/ Chồng chết đã mười mấy năm/ Thương tôi nên ở vậy không lấy chồng”. Đúng như lời thi nhân đã nói “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi/ Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người”.

Sau bốn năm rưỡi đại học, Phạm Quang Long được giữ lại trường cùng với những người học tốt nhất khóa ấy với kỳ vọng của thầy cô là “truyền đạt kinh nghiệm” cho lớp các em đến sau, chứ kỳ thực trong lòng chàng tân “cử nhân văn chương” ấy chỉ muốn được đi làm báo. Ông thành “thày giáo dạy văn từ đó”. Tôi có may mắn được làm học trò của ông khi tôi rời quân ngũ sau mười mấy năm bộ đội. Tôi nhớ, thầy Long dạy môn Lý luận văn học với những bài giảng chân thật, dung dị và cũng rất hiền khi đứng lớp. Mọi người còn lạ gì “con gái khoa văn” nữa, thôi thì “quá trời” luôn. Thầy Long bước vào lớp, không lên tiếng nhắc nhở mà thầy đứng yên mắt nhìn vượt xa qua ô cửa sổ, thầy “đợi” cho “mấy đứa con gái” lắng cuộc nói chuyện rồi mới giảng bài. Chỉ động tác nhỏ ấy thôi mà từ sau đó “con gái khoa văn” chợt “ngoan” hẳn.

Chẵn 30 năm làm thầy, từ giảng viên lên Chủ nhiệm khoa Văn học, rồi làm Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH và Nhân văn, rồi đảm nhiệm vị trí Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội. Bất chợt một ngày mọi người thấy PGs-Ts Phạm Quang Long trở thành một nhà quản lý văn hóa, ông nhận vai trò làm Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội vào năm 2005. Tôi gặp lại thầy Long ở Đại hội Hội nhà văn Việt Nam năm đó, Đại hội diễn ra ở Hội trường Ba Đình. Tôi cũng hơi bất ngờ nên hỏi thầy vì sao? Thầy Long cười “Tôi nhận việc theo sự điều động. Về địa phương mới thấy như bước vào một thế giới khác. Trường đại học mới như một lãnh địa nhỏ còn ra ngoài mới thấy cuộc sống bộn bề, dữ dội, mà khi giải quyết bất kỳ việc gì gần như không tìm được một phương án nào có sẵn nhưng bù lại nó cho mình một vốn sống đồ sộ không dễ gì có được”.

Lâu lắm hai thầy trò tôi mới có được lần nói chuyện dài dài và thú vị, tôi nhắc lại chuyến đi công tác Trường Sa hồi tháng 4 năm 2007, Phạm Quang Long chợt vui hẳn lên. Ông bảo “Đáng nhớ. Đáng nhớ lắm”. Mà sao lại không đáng nhớ kia chứ. Lần ấy Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội “dẫn quân” ra đảo, ông Giám đốc “thương” mấy em văn công nên chẳng nề hà thứ gì, nào là bê dụng cụ trang âm lên xuống tầu, nào là đứng là trụ đỡ cho mấy em khỏi chòng chành sóng biển, nào là đến người hỏi han ăn uống. Thực tình lúc ấy tôi thấy ông như một người cha yêu con hết mực.

Nhưng nhớ nhất là buổi tối trước khi đoàn công tác rời đảo để xuống tàu nghỉ theo quy định của quân đội, ông Giám đốc Sở đăm chiêu đi đi lại lại. Thì ra lúc đó ông đang nghĩ phải làm một việc gì thật ý nghĩa. Và việc thật ý nghĩa đó là ông gặp lãnh đạo đoàn công tác, gặp chỉ huy đảo Trường Sa để bày tỏ một ước nguyện chung của cả đoàn công tác. Tôi nhớ đêm đó biển Trường Sa thật dịu êm, gió thanh thanh mát, đề xuất của ông được chấp thuận. Ngay lập tức một lễ chào cờ chung của đoàn công tác Thủ đô Hà Nội với cán bộ chiến sĩ đảo Trường Sa được tiến hành. Dưới ánh trăng rằm tháng hai ta từng khối cán bộ chiến sĩ và thành viên đoàn công tác đứng trang nghiêm làm lễ chào cờ. Đó là lễ chào cờ có một không hai, chào cờ dưới trăng. Trong tiếng nhạc Tiến quân ca trầm hùng vang lên còn có những tiếng khóc xúc động của mọi người. Cũng theo đề xuất của ông, lá cờ Tổ quốc từng tung bay trên đảo Trường Sa được hạ xuống, gấp vuông vắn, chỉ huy trưởng đảo Trường Sa Lê Đại Dương trân trọng trao lại cho lãnh đạo đoàn công tác. Lá cờ đặc biệt ấy giờ được lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội.

Năm 2013, sau khi “hết tuổi nhà nước” PGs-Ts Phạm Quang Long trở lại trường tiếp nghiệp làm thầy. Ông từ chối mọi vị trí được gợi ý chỉ với mong muốn có thời gian để dạy và để viết. Tiểu thuyết đầu tay Lạc giữa cõi người được chấp bút năm 2015 và năm 2016 được Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Ngay khi nó ra đời đã gây những bất ngờ lớn. Bất ngờ bởi người viết và bất ngờ bởi nội dung của tiểu thuyết. Lấy bi kịch người trí thức bị tha hóa do áp lực của nhiều chuyện thời nay làm trung tâm, cuốn tiểu thuyết gây nên sự chú ý của độc giả. Được đà, năm 2017 ông cho ra mắt tiểu thuyết thứ 2 do Nhà Xuất bản Lao động ấn hành mang tên là Bạn bè một thuở. Nội dung lần này lại là đề cập đến tình cảm đồng đội của những người lính trở về phải đối lập với sự tha hóa của xã hội.

Nhưng trước đó phải nhắc đến tập kịch bản gồm 8 vở diễn mang tên Nợ non sông, xuất bản năm 2014, một tập kịch khá sâu sắc với một số vở bi kịch lịch sử như Nợ non sông, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, trong đó có những vở được dàn dựng giành giải, được đánh giá cao như Quan lớn về làng, Nguyễn Công Trứ, Nợ non sông... Đạo diễn, NSND Doãn Hoàng Giang từng có những nhận xét tốt về tập kịch bản này và chính vị đạo diễn tài hoa này là người động viên Phạm Quang Long viết kịch. Ông cho tôi biết ông thích chọn những khoảnh khắc bi kịch lịch sử vì ở vào những thời điểm ấy, vấn đề, bản chất, số phận con người lộ ra hết những góc khuất của nó. Bi kịch và thế sự là hai vấn đề xuyên suốt những vở kịch của ông.

Tiểu thuyết Cuộc cờ, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2018 thực sự là “cái mạch” suy nghĩ “Viết về những điều không thể không viết” của tiểu thuyết gia Phạm Quang Long. Ở tiểu thuyết này ông thẳng thắn và mạnh mẽ nói về “sự tham nhũng đã đạt tới mức… chính sách với những vấn đề xã hội đã trở thành… điển hình”. Tôi thầm nghĩ, phải chăng đó là đúc rút từ những năm tháng ông tạm xa việc làm thầy ở trường đại học để về làm quản lý văn hóa ở Hà Nội?

Tôi hỏi thay lời chào chia tay “Vậy những năm tháng công tác ở Hà Nội thầy có tổng kết gì không?”. “Có đấy” Phạm Quang Long đưa cho tôi xem Chuyện quanh ta, Nhà Xuất bản Hà Nội in năm 2019. Một tập sách gồm tập hợp những bài viết, bài nghiên cứu về văn hóa Hà Nội, sẽ thấy vẫn còn đó những nét văn hóa rất đáng giữ gìn và rất đáng nhân rộng. Có thế chứ, ông cựu Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội phải như thế chứ.

Nguồn Văn nghệ số 13/2020

Tin liên quan

“Hoa rơi không có kẻ giật mình”!

Nhà thơ Nguyễn Anh Thuấn sinh năm 1948, quê Bắc Ninh, trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 20 ...

Internet, phương tiện kỹ thuật số tác động thế nào đến văn hóa đọc?

Dịch giả Nguyễn Quốc Vương cho rằng tại Việt Nam, học sinh, sinh viên, say mê Internet và thiết bị k ...

Văn chương Ireland đương đại có ai?*

Có gì trong văn chương Ireland đương đại? Ireland, “miền đất của những nhà thơ và những huyền thoại, ...

Lãng tử cuối cùng một thế hệ đất phương Nam

Cùng sinh một làng và là bạn tâm giao của nhà văn Sơn Nam, bước vào thi đàn sau cuộc gặp gỡ “định mệ ...

Mikhail Golubkov: Chúng ta không có tiến trình văn học

Hiện nay, nhà nước Nga không hiểu xã hội cần văn học làm gì, nên đã đánh mất mọi sự quan tâm đối với ...

Họa sĩ Đức Dụ, người như sông trôi mướt mát đôi bờ

Tôi không thể ngờ người lính, họa sĩ chiến trường Đức Dụ ở tuổi ngót 80 lại trẻ trung sôi nổi đến vậ ...

“The End of October” và những dự báo có thật

“The End of October” của Lawrence Wright được dịch sang tiếng Việt và phát hành tháng 4, dự báo chín ...

Bổ nhiệm Trưởng Văn phòng đại diện Báo Văn nghệ khu vực Bắc Miền trung tại Thanh Hóa

Sáng ngày 23/5, tại tại Khách sạn Sao Mai, Thành phố Thanh Hóa, báo Văn nghệ đã tổ chức lễ công bố q ...

Cuộc chơi của bản sách đặc biệt

Bản đặc biệt, bản giới hạn, bản hạn chế - những cụm từ đang tạo "sóng gió" trên nhiều diễn ...

Sàng lọc văn học

Halmosi Sándor, nhà thơ Hungary, dịch giả văn học, chủ một nhà xuất bản, nhà toán học, sinh năm 1971 ...

Một lần hoa Xoan nở

Bài thơ Mộ Xuân tức sự - Tức cảnh cuối Xuân được Nguyễn Trãi (1380-1442) viết bằng chữ Hán là một tr ...

Hành trình tìm kiếm tình yêu

Sinh ra trong thời chiến, lớn lên trong thời bao cấp khó khăn, trưởng thành trong thời kinh tế mở cử ...