Hoàn tục


1. 

Ba năm trước tình cờ tôi gặp em. Em hỏi thăm tôi đường đến chùa Đồng Nhân. Nét mặt em buồn rười rượi. Em bảo lí do đến chùa có việc cần. Tôi không dám hỏi thêm. Nào tôi có quen biết gì em.

Mấy hôm sau, tôi lên chùa thăm sư thầy. Tôi và sư thầy vốn là chỗ đi lại thân tình. Sư thầy trọng và quí tôi vì là ông giáo hay vãn cảnh chùa, ít nhiều biết và dịch được những câu đối trên chùa. Từ quen đến thân, sư thầy coi tôi như người nhà. Tôi tò mò muốn biết chuyện về em.  Sư thầy bảo: “Tín nữ ấy có chuyện buồn riêng, quyết xin phép nhà chùa thệ phát (cắt tóc đi tu).

Minh họa của PHẠM HÀ HẢI

Thỉnh thoảng lên chùa tôi lại gặp em.  Em ở chùa gần hai năm nhưng vẫn chưa được xuống tóc. Mùa đông cũng như mùa hạ, em giấu bộ tóc đen dưới chiếc mũ len màu nâu. Mắt em vẫn long lanh buồn. Lòng em vẫn đóng kín. Mãi sau này, tôi làm quen được với em. Em coi tôi như người anh. Em tâm sự: “Em đã có chồng và một đứa con trai lên bốn tuổi. Chồng em được đi xuất khẩu lao động ở nước Đức. Một mình em ở nhà cày cuốc nuôi con, nuôi bố mẹ chồng. Em đợi chờ và hy vọng chồng em trở về để được đoàn tụ, để cuộc sống đỡ đói nghèo. Rồi anh ta cũng trở về. Đi theo anh ta là một người đàn bà xa lạ. Anh ta xúi giục bố mẹ chồng đuổi em đi, vu cho em là không chung thuỷ trong những năm tháng anh ấy đi xa. Anh ta làm một căn nhà ba tầng ở ngay đầu làng để ở cùng người đàn bà ấy. Cả bố mẹ anh ta và đứa con lên bốn của em, anh ta đều bắt về ở đấy. Một mình em cô đơn trong ngôi nhà cũ dột nát mà gia đình anh ấy gọi là trả công cho em. Quê ngoại thì xa. Họ hàng nhà chồng nhiều người biết chuyện, thương em nhưng không thể thuyết phục anh ta được. Tủi nhục và đau khổ, em tìm đến một ông thầy bói mong vớt vát niềm an ủi của số mệnh. Thầy bói phán: “Cô mệnh nặng, số cao sẽ còn gặp nhiều hoạn nạn. Chỉ có một cách là gửi thân vào cửa Phật mới mong tìm được sự thong dong”. Em tin và em quyết đi tu.

Ở chùa, công việc của em ngày nào cũng giống ngày nào. Ngày hai buổi em cuốc xới, gánh nước tưới cho những luống rau, những gốc cây ăn quả. Để có đủ nước tưới cho hàng sào rau, hàng trăm cây ăn quả, mồ hôi của em đã đổ giữa mùa đông giá lạnh. Đôi thùng gánh nước nhà chùa đã cùng em vượt qua hàng mấy trăm bậc đá cả một mùa hanh heo. Em làm việc bất chấp nắng mưa. Đời là bể khổ. Em lấy công việc nặng nhọc để muốn quên đi tất cả. Đêm đêm, bên ngọn nến tù mù, em đọc kinh Phật. Hai tay chắp trước ngực, đôi mắt nhìn vào khoảng không vô định, miệng em nhẩm theo các bài kinh. Trước mắt em là những bộ kinh dày cộm. Ba giờ sáng em lại trở dậy gõ mõ, tụng kinh. Thời gian dành cho giấc ngủ của em quá ít ỏi. Em bảo, những lúc học và đọc kinh, em thấy mình thanh thản và đựợc giải thoát. Cuộc sống buồn tẻ và ép xác như vậy mà lạ thay, em vẫn khoẻ, vẫn đẹp. Da em vẫn trắng hồng. Má em vẫn đỏ ửng. Ngực em vẫn cộm lên dưới tấm áo nâu sồng của nhà chùa. Em bảo: “Chắc em thành tâm nên Phật tổ ban phúc cho”. Hơn hai năm trời thử thách, sư thầy mới cho phép em cắt tóc và đặt cho em pháp danh Diệu Thuần.

Tôi biết được chồng cũ của em và người đàn bà theo anh ta trở về chẳng ăn ở với nhau được bền. Ngôi nhà ba tầng đứng cô đơn giữa vùng quê nghèo đã biến thành nhà tù giam giữ người đàn bà nhiều tham vọng và thích hưởng lạc. Cô ta đã tự giải phóng cho mình khỏi cái nhà tù ấy. Sợi dây liên kết tình tiền ở chốn đất khách quê người làm sao ràng buộc họ ăn đời, ở kiếp với nhau. Anh chồng cũ của em hối hận vì đã phụ bạc em. Mấy lần anh ta đến chùa xin em tha thứ cho lỗi lầm xưa và thuyết phục em trở về đoàn tụ. Nếu em trở về, em sẽ là bà chủ của ngôi biệt thự ba tầng kia. Em sẽ không phải chân lấm tay bùn vất vả nữa mà là chủ của một cửa hàng vật liệu xây dựng. Anh ta nói nhiều, hứa hẹn nhiều lắm... Lần thứ nhất anh ta đến em im lặng. Lần thứ hai anh ta đến, em khước từ. Lần thứ ba anh ta đến, em tránh mặt. Tình nghĩa vợ chồng cũng như bát nước, đổ đi rồi làm sao lấy lại được. Chí em đã quyết, số em đã vậy cũng đành. Biết là không thuyết phục nổi em, hình như anh ta đã đi lấy người khác.

Tôi biết có nhiều người đàn ông tìm đến em. Giàu, có. Sang, có. Dặt dẹo, có. Đứng đắn, nghiêm chỉnh, có. Có những kẻ nhân chùa vắng dở trò sàm sỡ, em phải tri hô, nhờ sư thầy can thiệp. Có kẻ thực bụng, chân thành theo đuổi hàng năm trời, cho đến khi em xuống tóc mới thôi. Các bạn có biết không? Người ấy chính là tôi, người đàn ông nửa đường đứt gánh về chuyện hôn nhân vì người bạn đời của tôi bỏ tôi mà đi sau một cơn bạo bệnh. Người ấy đã ra đi hơn hai năm trời kể từ khi em bước chân vào chùa. Tôi đã chôn chặt nỗi đau đớn và mất mát lớn lao ấy vào lòng, không muốn chia sẻ cùng ai. Tôi nghĩ có lẽ cả đời này tôi chẳng tìm được một người thứ hai hiền dịu, chịu thương chịu khó như người ấy. Thế rồi tôi gặp em. Thương cảnh em thắt lòng, tôi đã yêu, nhưng không được đáp lại. Em bảo mình như con chim nhỏ, sợ làn cây cong. Kiếp trước em đã lỗi giờ sinh, thôi kiếp này em xin gửi thân vào cửa Phật để mong một kiếp sau được phúc phần. Nghe những lời em nói ra, tôi biết lòng em sắt đá lắm rồi. ..

 

2.

Mấy tháng nghỉ hè, tôi được một người bạn thân làm ăn phát đạt ở Thành phố Hồ Chí Minh, biết tôi đơn côi rủ vào chơi cho vui. Tôi cũng muốn vào thành phố phương Nam đô hội ấy bởi nghe thì nhiều nhưng chưa được đến bao giờ. Đây cũng là dịp cho tôi quên em. Nhưng nào có quên được, tôi đi nhưng lòng vẫn không nguôi nghĩ về em. Lúc trở về để chuẩn bị khai giảng năm học mới, tôi vội vàng lên chùa Đồng Nhân. Tôi gặp sư thầy nhưng chẳng thấy Diệu Thuần đâu. Tôi băn khoăn hỏi: “Bạch thầy! Ni cô Diệu Thuần chắc đã chuyển chùa khác?”. “A di đà Phật, người đàn bà ấy đã hoàn tục”. Sư thầy chỉ nói vậy, không một lời giải thích. Nhìn sắc diện sư thầy, tôi không hiểu được người vui hay buồn trước sự ra đi của Diệu Thuần. Còn tôi thì sửng sốt ngạc nhiên. Vì lí do gì mà Diệu Thuần nhập thế, nơi mà em cho là bể khổ mà em đã quyết tâm chối bỏ? Không dám hỏi thêm sư thầy, tôi lặng lẽ chào người ra về mà trong lòng đầy băn khoăn. Tôi thầm trách em ra đi mà không một lời từ giã. Sao em lại giã từ cửa Phật? Em đã kiên tâm tu luyện để đến được cõi tâm, không lẽ lại nửa đường đứt gánh? Nguyên nhân gì vậy? Hay là một phút xiêu lòng vì ai đó mà bỏ cửa Phật em đi. Sức mạnh nào đã kéo em khỏi cửa chùa, nơi em đã thề sẽ dâng hiến phần đời còn lại. Tình yêu chăng? Không! Cõi lòng em đã khép lại rồi cơ mà. Nhưng biết đâu được. Một phút yếu lòng, một lời cám dỗ. Cũng có thể, bởi em cũng là người chứ đâu phải là sắt đá. Em cũng chỉ là kẻ mới bước một chân vào cõi Phật chứ em đâu phải là một bậc chân tu. Hay là chừng ấy ngày tháng sống kiếp tu hành em không chịu nổi. Ngày nào cũng như ngày nào, hết gánh nước tưới rau, hết vun cây cuốc cỏ lại gõ mõ, tụng kinh. Đơn điệu, tẻ nhạt và vất vả quá. Em còn trẻ đẹp, cuộc sống em đầy nội tâm, em muốn chia sẻ, muốn không hoang phí cuộc đời mình. Có lẽ em hoàn tục cũng đúng thôi. Nhưng tự đáy lòng tôi vẫn trách em, giận em. Em muốn ở với đời, thì bước chân vào chùa làm gì, đày ải thân mình mà làm gì. Những việc em làm phải chăng chỉ mua lấy tiếng cười cửa miệng thế gian mà thôi. Hoá ra những điều em chối bỏ trước đây là giả dối. Cũng có thể em bỏ nhà đi tu là phản ứng nhất thời, đến lúc nghĩ lại thì thấy hối hận và nuối tiếc. Sao tôi lại nghĩ về em nhiều thế. Có lẽ lòng tôi vẫn yêu em. Nghĩ lại tôi lại tự nhắc mình, một tình yêu đơn phương, băn khoăn trăn trở làm gì, hãy quên cái tên Diệu Thuần đi. Trong tôi, Diệu Thuần như là hiện thân cho sự giả dối và phản bội. Thời gian đã giúp tôi xoá mờ hình ảnh người đàn bà ấy.

 

3.

Sau tết Nguyên đán, tôi được cử lên thị xã B. công tác mấy ngày. Chiều ngày thứ hai, sau buổi làm việc tôi tản bộ một vòng quanh thị xã. Cái thị xã nhỏ mà dăm năm trước tôi đặt chân tới nay thay đổi đến ngỡ ngàng. Nhà cũ, phố xưa đã thay áo mới, rực rỡ và sang trọng hơn nhiều. Tôi khó tìm được ở đây một mái nhà cấp bốn với mái ngói xám xịt như những năm xưa. Những con người mà tôi tình cờ gặp hối hả hơn và có lẽ năng động hơn. Mới hay cơn gió của kinh tế thị trường không chỉ giúp tân trang lại phố phường mà thay đổi cả nhịp sống con người. Vui chân, tôi ghé vào khu chợ cũ, muốn tìm lại những quán chợ ngày xưa: Những dãy nhà trống tuềnh, lợp ngói, nền đất nham nhở, vứt đầy lá bánh, giấy vụn, những con chim bồ câu thơ thẩn kiếm mồi và những cô hàng xén xinh tươi, những bác hàng cơm, hàng phở luộm thuộm và nhếch nhác thuở nào. Nhưng đâu còn nữa. Một khu chợ hiện đại đã mọc lên. Tôi lượn một vòng tầng dưới. Những quầy hàng rau quả, thực phẩm tươi sống đầy ắp và ồn ã tiếng người mua bán. Trên tầng hai, từng kiôt hàng điện máy, vải vóc, quần áo sáng trưng, lịch sự. Thật chẳng kém gì những chợ lớn ở thủ đô. Đang say sưa ngắm kẻ mua người bán và những sạp hàng, tôi bỗng giật mình. Người đàn bà đang bán ở sạp vải bên phải có dáng quen quen. Chị ta còn trẻ... dáng người ấy... ai nhỉ? Tôi tiến lại gần hơn để nghe được tiếng nói của chị. “Em cứ tin chị đi. Nếu về nhà không ưng ý lên đây chị đổi cho”. Cái giọng nói êm, nhẹ, buồn còn lẫn đi đâu được. Thôi đúng Diệu Thuần rồi! Diệu Thuần là chủ của sạp vải kia. Tôi chợt nhớ một câu ca dao cũ: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Diệu Thuần đã chọn cách tu thứ hai. Nhưng tại sao em lại chọn cách tu này? Chờ cho khách hàng đi khỏi, tôi tiến lại gần và khẽ gọi: “Diệu Thuần”. Diệu Thuần quay phắt lại ngỡ ngàng nhìn tôi: “Trời ơi, anh, sao anh biết em ở đây”. “Cũng tình cờ thôi. Em có khoẻ không”. Tôi hỏi như để lấp đi nỗi xúc động. “Ở đây ai cũng gọi tên cũ của em, Oanh, anh cũng gọi em thế nhé”. “Tôi vẫn nhớ một Diệu Thuần mà thôi”. “Em biết anh giận và coi thường em. Nhưng nếu anh còn một chút cảm thông thì chiều nay, mời anh đến thăm mẹ con em”. Nghe giọng Oanh, tôi biết em buồn và đau khổ lắm.

 

4.

Buổi chiều tôi tìm đến nơi Oanh ở. Một gian nhà nhỏ cô thuê. Trong nhà thật đơn sơ. Một bộ bàn ghế nhựa vừa là chỗ tiếp khách, chỗ ăn cơm, chỗ học cho con trai của Oanh. Một chiếc giường đôi, cánh quạt, chỗ ngủ của hai mẹ con. Trong góc nhà mấy xấp vải chồng lên nhau thứ hàng hoá mà cô đang bán ở chợ. Trong gian nhà ấy không thấy dấu hiệu gì chứng tỏ có mặt của một người đàn ông. Tôi lại được trở về chùa Đồng Nhân qua lời Oanh kể: “Hồi còn ở chùa, đứa con nhỏ của em đã mấy lần tìm đến. Nó biết em đi tu, nhưng không biết tu ở chùa nào. Nó trốn nhà đi tìm em ở các chùa trong vùng. Mãi sau, nó mới biết em ở chùa Đồng Nhân. Hai lần đầu đến, nó đứng thơ thẩn ở cổng chùa. Em sợ phải gặp nó nên đã tránh mặt. Em cứ nghĩ, bố nó có tiền chắc nó sẽ có điều kiện học hành tốt. Hơn nữa, nếu ra gặp nó em sợ sư thầy sẽ quở trách vì đã quyết đi tu mà không dứt bỏ được lòng trần. Có người mẹ nào chẳng thương con. Nhưng cứ nghĩ đến những đau khổ, những sự phụ bạc trước đây của chồng và gia đình nhà chồng thì việc tránh mặt con, em dốc lòng tu hành là đúng lắm rồi. Nhưng anh ơi, con em vẫn đến tìm em... Nó đứng ở cổng chùa khóc và hét to lên: “Mẹ ơi! Cho con theo với, con khổ lắm! Mẹ ơi, mẹ đừng bỏ con”. Nó cứ đứng cổng chùa mà gào khóc. Mãi đến trưa, chắc mệt quá, nó tựa cổng chùa ngủ thiếp đi, hai dòng nước mắt vẫn chảy tràn trên má. Hôm đó rất may sư thầy đi vắng. Em lặng im, nép vào gốc nhãn sân chùa theo dõi thằng bé. Nhìn thấy cảnh đầu tóc nó rối bù, mặt mũi nhem nhuốc, quần áo rách nát bẩn thỉu, thân thể xanh gầy của nó, em chắc là nó bị hắt hủi, không thể sống hạnh phúc trong ngôi nhà của bố nó rồi. Em cứ đứng ôm gốc nhãn nhìn thằng bé mà khóc ròng. Không đành lòng được nữa, em chạy ra, bế thốc nó vào trai phòng. Tội nghiệp nó quá, con em mới bảy, tám tuổi chứ đã biết gì.

Oanh kể lại cho tôi mà cô cứ khóc ròng. Tôi nhìn ra khung cửa sổ căn nhà để cố giấu sự xúc động trào dâng trong lòng. Tôi giục Oanh kể tiếp. “Em lau mặt rửa tay cho nó, xới cơm cho nó ăn. Chỉ cơm với tương chùa mà nó ăn ngấu nghiến ba bát liền. Chắc con em đói lắm. Ăn xong, nó mếu máo bảo em: Mẹ ơi, cho con ở với mẹ nhé. Không được đâu con ơi. Đây là nhà chùa. Con phải về với bố để còn đi học. Con đến tuổi đi học lớp một rồi. Nó giãy lên: Ứ, con không về với bố đâu. Bố hay đánh con. Dì bắt con bế em, không cho đi học. Con không dỗ được em, dì bắt con nhịn ăn, xé quần áo của con. Hai mẹ con cứ ôm nhau mà khóc. Em tin những điều con em nói là sự thật. Trẻ con ở tuổi ấy không biết nói dối. Em cứ nghĩ bố nó giàu, con em sẽ sung sướng, có ngờ đâu con em lại khổ đến thế. Em giấu sư thầy, giữ con em ở qua đêm. Em tắm giặt, gội đầu cho nó. Đêm đó, hai mẹ con em ôm nhau ngủ. Đã lâu lắm rồi, em lại mới được ôm con ngủ trong lòng, được hít thở mùi hương nồng nồng, ấm ấm của nó. Nhìn con ngủ ngây thơ mà lòng em xót xa, trăn trở. Có người mẹ nào lại dằn lòng được khi thấy con mình bị đọa đày đau khổ. Em tự biết đời em coi như bỏ đi rồi, còn đời con em chỉ mới bắt đầu. Cả đêm ấy em không ngủ.

Sáng hôm sau, em dắt con đến gặp sư thầy. Cả hai mẹ con quì dưới chân người: “Bạch thầy, đây là đứa con trai bé bỏng của con. Con đã phạm phép Phật, ở cõi Phật mà chưa hết lòng trần”. Nghe em nói vậy, sư thầy ra hiệu bảo em ngừng lời. Người bảo: “A di đà Phật! Con không phải nói nhiều, ta hiểu lòng người mẹ nơi con... Nhưng lẽ đời và phép Phật chỉ cho con chọn một... hãy tĩnh tâm mà lựa chọn đi con”. “Bạch thầy, cả đêm qua con đã suy nghĩ nhiều. Con xin thầy tha tội cho con. Kiếp này thầy cho con lỗi nghiệp tu, cho con được hoàn tục để nuôi đứa con thơ dại. Kiếp sau con lại xin được ăn mày cửa Phật”. Sư thầy lặng im, đôi mắt nhìn vào hư vô. Hai tay chắp trước ngực, người đang cầu kinh. Một lúc sau, người bảo: “Ta hiểu lòng con. Đức Phật dạy chúng sinh phải biết từ bi, hỉ xả... nếu tâm con đã quyết, ta cũng bằng lòng. Cõi Phật rộng vô biên... nhưng con phải tâm niệm điều này: Phật tại tâm, nhớ lấy và để đừng trái với lời răn của Phật nghe con”! Cả hai mẹ con em đều trào nước mắt và chắp tạy lạy tạ người.

Thế là em đưa con đi khỏi chùa Đồng Nhân. Bố nó đồng ý cho em nuôi con. Em biết trong đời, khi người ta phải chọn con đường đi của mình, con đường được chọn ấy có thể đúng, có thể sai. Riêng em, em đã chọn như thế. Ai hiểu và thông cảm cho em thì em được phận nhờ. Còn ai không hiểu cười chê em thì em phải chịu, phải không anh. Tôi hiểu lòng em. Tôi rất muốn được cùng em chăm lo cho con em học hành nên người, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn suốt phần đời còn lại với em. Nhưng tôi chưa dám nói. Có lẽ phải chờ một dịp khác vậy.

Nguồn Văn nghệ số 35+36/2020

Tin liên quan

Con Pai ro mhai ra đi, người S’Tiêng ở lại

Trở lại nơi vùng đất cách xa nhất trung tâm tỉnh Lâm Đồng (xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên), cảm xúc ...

Trở lại miền đảo xa

Ra đến đảo, lần nào cũng thế, khi đặt chân lên cầu tàu ở đảo, lòng tôi đã dâng đầy cảm xúc, một Cô T ...

Thơ đoạt giải cuộc thi Thơ báo Văn nghệ (1019 - 2020)

TÒNG VĂN HÂN Mẹ tôi chửi kẻ trộm Những lần gà nhà tôi bị mất Mẹ tôi chửi: - Cái đứa trộm g ...

Gió Lào

Quê tôi nhiều đặc sản, một trong những đặc sản được thiên nhiên ban tặng là gió Lào. Mỗi năm, vào đầ ...

Từ một bài thơ đến việc đặt tên cho một thị trấn

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm Vinh năm 1975, tôi được phân công về dạy học ở Trường ...

Những chuyến đi và nền tảng cho thi ca

Chúng tôi thường đùa là nữ thi sĩ Việt Nam có 3 cái vai: vai gánh công việc, vai gánh gi ...

Những người giữ hồn làng

Thiên hạ bảo, người ta phát hờn ghen với người làng Gang của tôi ở cái xã Thụy Ninh thuộc huyện Thái ...

Mưa đầu mùa

Sớm nay, trong cái vắng tanh của con ngõ, tôi gõ nhẹ vào cái hộp gỗ đựng trà, nghe tiếng rỗng không. ...

Tiếng hát yêu đời

...Trịnh Công Sơn là người thuộc thế hệ của những con người bị ném vào lò lửa của chiến tranh khốc l ...

Phố núi mùa dã quỳ vàng rực

Cao nguyên Gia Lai hình thành bởi dãy núi lửa đã chết hơn triệu năm. Bước chân đến Pleiku tôi đã mơ ...

Ca trù và duyên phận

Nghệ nhân ưu tú (NNƯT) Phùng Thị Hồng sinh năm 1952 tại làng Đại Phùng, xã Đan Phượng, huyện Đan Phư ...

Có một hương xuân trong lòng thị xã!

Trời chuyển sang mưa, cái lạnh se se giữa những ngày xuân ấm vừa qua khiến ta chùng lòng... Muốn nắm ...