Khúc đồng dao của người không có tuổi


VĨNH BIỆT NHÀ THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO

Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa

Như thời đã đi qua, như thời rồi sẽ đến.

Đúng như những câu thơ trong bài Tản mạn thời tôi sống của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, mọi thứ rồi sẽ qua nhưng dòng đời thì vẫn cứ trôi đi như thế. Chúng ta chỉ là những phận người quá nhỏ bé dưới sự sắp đặt của bàn tay tạo hóa. Thời thế rồi cũng sẽ trở thành rò đùa, danh vọng cũng trở thành hư ảo, chỉ còn lại tình yêu mà chúng ta dành cho nhau khi còn trên cõi đời này sẽ ở lại. Chỉ cách đây 1 năm, tất thảy mọi người đều vui mừng khi biết tin nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã vượt qua cơn tai biến thập tử nhất sinh một cách thần kì chỉ trong mấy tháng trời, lại thấy nhà thơ xuất hiện trong những cuộc vui với bạn bè. Nhưng rồi không lâu sau, ai nấy đều bị sốc khi biết tin Nguyễn Trọng Tạo mới phát hiện ra căn bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối. Anh em bạn bè chỉ biết nói với nhau âu cũng là mệnh trời. 19 giờ 50 phút ngày 7/1/2019 (tức 2/12 Mậu tuất) nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, hưởng thọ 72 tuổi. Cuộc đời buồn biết mấy khi lại thêm một thi sĩ tài hoa, một tấm lòng bầu bạn của những cuộc rong chơi bất tận đã ra đi bỏ mặc thế gian này. Nhưng “Những bông hoa vẫn nở đúng mùa”, đó là sự khắc nghiệt nhưng cũng là điều kì diệu của cuộc sống, Nguyễn Trọng Tạo đã hoàn tất sứ mệnh của mình trên dương thế với cuộc đời, với thơ ca, với bạn bè, và Nguyễn Trọng Tạo không chết khi người ta vẫn còn đọc thơ ông.

Dưới đây báo Văn nghệ xin giới thiệu một bài viết của nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú, bài viết mới nhất về Nguyễn Trọng Tạo trên Văn nghệ để chúng ta cũng hồi nhớ về một con người tài hoa của mảnh đất xứ Nghệ địa linh.

Văn nghệ

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo (1947-2019)

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có bài thơ khá nổi tiếng (Sau  ông  lấy tên chung cho tập thơ của mình) là “Đồng  dao cho người lớn tuổi”.  Đọc xong, tôi nghĩ ông nhà thơ này đúng là không có tuổi chứ không phải lớn tuổi. Ở tuổi   trải qua bao kinh nghiệm sống thế mà nhịp thơ trở lại đồng  dao – đồng  dao như một thời thơ ấu. Sau, tôi mới biết trong gia tài văn chương nghệ thuật đa tài của ông là nhạc, thơ, họa , ông còn là người viết văn xuôi và đặc biệt viết cho các em ở lứa tuổi thiếu nhi cả thơ và truyện. Tôi nghĩ, riêng ông đã có một “nhịp” riêng. Không chỉ là nhịp đồng  dao ở cụ thể bài thơ đó mà “Đồng  dao” cả trong âm hưởng thơ ông, nhạc của ông và cả các bìa sách ông vẽ nữa. Cái nhịp tưởng như tưng tửng, phiêu bồng và khoáng hoạt ấy lại chứa đựng sau đó là những chiêm nghiệm sâu sắc từng  trải bao nhân tình thế thái. Cái nhịp đồng  dao ấy cũng là tiết tấu của cuộc sống thường ngày của ông. Kể cả khi bên bàn rượu với bạn bè cứ  rủ rỉ giọng trầm đặc sệt quê Diễn Châu thế mà có khi kéo dài thâu  đêm suốt sáng…

Còn nhớ những ngày mới nhập ngũ tôi về đoàn 22 huấn luyện tân binh (ở huyện Hương Sơn – Hà Tĩnh) sau đó được lựa chọn đi học trường  hạ sĩ. Cái trường ấy rèn luyện tân binh khắc nghiệt có tiếng. Tôi vẫn còn ám ảnh cái “ Dốc  hạ sĩ” màu đất đỏ  quyệt dính bết như một con trăn lớn chảy từ đỉnh xuống chân núi – Cái ngọn núi cao nhất hiểm trở nhất của Hương Sơn hồi ấy. “Dốc  hạ sĩ” khi mưa thì đường trơn lầy lội như ai đó đổ mỡ , thế mà lớp học viên chúng tôi tuần nào cũng phải leo lên để vào rừng chặt nứa về làm doanh trại. Một lần quá mệt nhóm ba đưa chúng tôi thường gọi là “tổ tam tam” nằm gối đầu lên bó nứa mệt bả hơi thở ra cả làn khói sương trắng mùa đông lạnh giá. Bỗng nghe ai đó ở lưng chừng dốc xứơng lên câu thơ của Nguyễn Trọng Tạo trong bài thơ “Tổ ba người”: “Ở nhà có mẹ có cha – Về đây có tổ ba ba chúng mình”. Thế là bao mệt nhọc trút đi hết , hào hứng trở lại. Người khỏe kéo người yếu, người khéo tay giúp người vụng về bó gác nứa chắc gọn lăn xuống dốc và theo đà người trượt xuống luôn. Không biết cái nhịp thơ dân dã như   ca dao ấy đã thấm vào bao giờ mà “Tổ ba người” trở thành bài thơ phổ biến. Sau này, tôi được biên chế về sư đoàn 341B làm đường tàu thống nhất thì Nguyễn Trọng Tạo là đội trưởng của đội Tuyên văn trên   sư đoàn. Một sự tình cờ may mắn, do có vài bài thơ in báo quân khu 4, tôi được quân lực điều về ban sáng tác của đội văn nghệ trung đoàn 22 thuộc sư đoàn 341B. Tại đây, thỉnh thoảng về sư đoàn tham dự các mùa hội diễn văn nghệ thường kì tôi được biết ông. Thật ra là ngắm ông từ xa. Một trung úy đẹp trai, tóc xoăn lòa xòa  dáng người gầy. Rồi cái lần đội văn nghệ chúng tôi đang tập thì nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo dẫn hai sĩ quan quân đội ghé thăm. Đó là trung tá nhà văn Hữu Mai và thiếu tá nhà văn  Hải Hồ cả hai đang đi thực tế viết về các đơn vị làm đường sắt thống nhất. Tôi nghe các ông lóang thoáng nói chuyện với nhau mới biết là Nguyễn  Trọng Tạo đang viết tiểu thuyết “Chính ủy và tôi” – mà nhân vật chính là chính ủy trung đoàn tôi. Chao ôi, tiểu thuyết nghe đến đó tôi đã giật mình ngưỡng mộ ông bởi nhìn những pho sánh  dày cộm hàng trăm trang tôi đã thấy ngợp. Choáng. Nhưng không hiểu vì sao mãi đến bây giờ tôi vẫn chưa thấy cuốn tiểu thuyết này ra đời và cũng chưa có dịp hỏi ông. Chính ủy trung đoàn  thì tôi biết đó là trung tá Lê Thế Thụ. Một con người cân đối dáng rất đẹp nghe nói trước là lính   của đội quân danh dự quốc gia chuyên đón tiếp các  nguyên thủ. Chính ủy nói chuyện rất hay, hùng biện lắm có sức hút hấp dẫn bởi ông truyền cảm hứng bằng lối vì von bằng chất văn nghệ  ,văn chương…

Năm 1982 tôi đi ôn ở trường văn hóa quân đội và thi đậu vào   Học viện KTQS. Một lần về Hà Nội ghé qua anh Lê Trọng Hà, một người sáng tác nhạc hồi đội văn nghệ trung đoàn với tôi đang học ở Học viên âm nhạc. Anh Hà rủ tôi đến khu  Vân Hồ có trại viết quân đội thăm nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đang ở đó. Khu nhà cấp bốn, mỗi phòng hai nhà văn quân đôi, ông ở cùng phòng với nhà thơ Nguyễn Hoa . Căn phòng chia đôi một bức vách chỉ  chừa một lối đi cho cả hai người, Nguyễn Trọng Tạo ở phòng trong. Trong khi nhà thơ Nguyễn Hoa đang sốt  sắng đun nước niềm nở pha trà mời khách thì ông lấy tờ báo Văn Nghệ trên bàn và khoe với chúng tôi bài thơ mới đăng chiếm gần trọn một trang báo – Bài “Tản mạn thời tôi sống”. Thật ra hồi đó anh Hà đã chơi thân với ông vì cùng sáng tác nhạc và Nguyễn Trọng Tạo đã khá  nổi tiếng với ca khúc “Làng quan họ quê tôi”. Còn tôi,sau khi nghe anh Hà giới thiệu ông cười: Học xe tăng à, có phải em là tác giả bài thơ “Xe tăng qua miềquan họ’ mà An Thuyên phổ nhạc phải không? Thế là tôi thân ông. Có thể nói “Tản mạn thời tôi sống” của ông cùng với bài thơ “Nói với con” của Thạch Quỳ đã gây được tiếng vang trong dư luận bạn đọc . Đây là những cột  mốc đánh dấu   thời kì văn học đổi mới: “Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa – Như thời đã đi qua như thời rồi sẽ đến”. Cái điệp khúc như một thông điệp dự cảm riết ráo ấy đã dự báo khá chính xác “thời tiết nhân văn thế sự” của đời sống xã hội bấy giờ với bao mâu thuẫn  nội tại. Chỉ có nhà thơ với ăng - ten khá nhạy cảm của mình mới bắt được những tín hiệu và phát sóng: “Thời tôi sống với bao nhiêu câu hỏi – Câu trả lời thật không dễ dàng chi” Cái chất đồng  dao thế sự với những trực cảm đau đáu hướng tới cái lõi nhân bản, nhân văn đầy chất phán biện qua ngòi bút của Nguyễn Trọng Tạo được  láy lại khi ông viết bài thơ: “Tin thì tin, không tin thì thôi”. Để nói ra được điều này trái tim của thi sĩ rớm máu chứ không phải một lối “buông xuôi”  tưng tửng. Bởi “Nhưng tôi người cầm bút ,than ôi – Không thể không tin gì mà viết” . Và ông đặt niềm tin vào Con Người, đặt cược niềm tin vào ngòi bút để không hổ danh, hổ thẹn. Kể cả trong những cuộc vui đến mức: “Tôi uống , đền đài ngảnghiêng say” khi “Tôi còn cái xác không hồn – Cái chai không rượu tôi còn vỏ chai” (Chia). Còn và mất, được và cho luôn là những hàm nghĩa ân tình khi ông thú nhận: “Chia cho em một đời thơ – một lênh đênh, một dài khờ, một tôi”. Cái một, cái riêng, cái tôi là bản thể của sự sáng tạo. Ông không chỉ một trong thơ mà cả trong nhạc, họa và một cả trong tính cách đời sống thường ngày. Có thể nói: Nguyễn Trọng Tạo là người cực đoan nhưng  không bảo thủ . Ông luôn ưu ái phát hiện nâng đỡ   các tác giả trẻ. 

Thành phố Vinh cuối những năm 80 khi thời kì bao cấp cấm vận giao lưu hàng  hóa thắt chặt đời sống khó khăn đến nỗi: “Dân xứ Nghệ mặt vàng như nghệ”. Tôi  thường  ra Vinh để mua đồ máy cho dân biển quê tôi vì hồi đó sau khi học xong Học viện KTQS tôi ra quân vì mê văn chương và không phù  hợp với kỹ thuật . Một lần đến Hội văn nghệ Nghệ Tĩnh tình cờ gặp nhà thơ Thạch Quỳ , ông rủ tôi về nhà ở trong khu tập thể nhà lắp ghép phố Quang Trung . Cô Nhã (vợ ông) có mở quán rượu nhỏ. Những khi đi chợ nhờ ông xem quán hộ. Rượu thì mấy loại với giá khác nhau. Ông là thầy giáo dạy toán cực thông minh nhưng không nhớ nổi. Cô Nhã đành buộc ở cổ chai loại một là một vòng lạt, loại hai là hai vòng để ông bán theo giá từng loại. Nhớ được rượu, nhưng nhiều khi bạn văn và những người hâm mộ vào quán, nhà thơ cao hứng đọc thơ và chia sẻrượu khách mời   đến khi say thì chẳng nhớ đã thutiền hay chưa. Thế là lỗ dù vui, rất vui. Tôi hỏi ông :lâu nay   có gặp nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo không. Thạch Quỳ thủng  thẳng: Thỉnh thoảng Tạo có ghé qua đây uống rượu đọc thơ, nghe nói có căn phòng  được quân khu 4 phân cho ở gần đường Mương. Tôi liền  rủ Bùi Sĩ Hoa (ở Đài  PT-TH tỉnh Nghệ An) một bạn thơ đã quen nhau khá thân hồi ở quân đội. Tôi học Khoa tăng – thiết giáp, Hoa ở tiểu đòan huấn luyện xe tăng , lúc đó làm công vụ cho tiểu đoàn trưởng. Bữa nào có ăn tươi (nghĩa là tiểu đoàn mổ lợn) , Hoa đạp xe sang rủ tôi đến tiểu đoàn bộ đánh chén (chủ yếu là lòng lợn ưu tiên cho thủ trưởng). Hoa lúc đó đã có bài thơ viết về chuyến tàu đêm chở lính lên biên giới được giải thưởng cuộc thi thơ tạp chí văn nghệ quân đội. Chúng tôi ghé qua Hội Văn nghệ  rủ thêm thi sĩ Tuyết Nga lại nhà Nguyễn Trọng Tạo. Nói là nhà nhưng chỉ là căn phòng cấp bốn. Tôi có mang mực biển Cửa Sót ra vì thế trưa đó ông và cả ba “cây bút trẻ” ăn cơm uống rượu khá vui. Phải nói rằng Nguyễn Trọng Tạo khá tinh tế trong ẩm thực từ cọng rau thơm đến quả ớt. Ông bảo: Học được ở nhà thơ Phùng Quán . Ông uống rượu để nhấm những câu chuyện về thi ca. Uống lai rai, uống bền và sâu. Cung cách uống của ông thì khá bình dị nhưng khi nâng tay đưa chén rượu lên lại như là một nghi lễ. Ông bảo, uống rượu với Văn Cao tuyệt lắm. Ông Văn có nhận xét về rượu rất chí lí và đầy ấn tượng :“Rượu  Bàu Đá dày, rượu Làng Vân mỏng”. Qua câu chuyện  Thi –Tửu trưa ấy, tôi biết ông rất mê Hàn Mặc Tử - Một nhà thơ tài hoa  mà đoản mệnh. Tôi hỏi: Câu thơ nào của Hàn ám ảnh ông nhất. Nguyễn Trọng Tạo đọc ngay: “Trăng trăng trăng và trăng trăng trăng – Mung lung và rợn ngợp. Tuyết Nga hỏi: câu thơ nào Nguyễn Du mà ông thích nhất. “Mai sau dù có bao giờ”. Trời! Toàn hư từ - Bùi Sĩ Hoa kêu lên. Lại nhớ cái đêm tôi ở lại phòng ông . Gường tầng. Khách đến nằm tầng trên, ông tầng dưới vì đêm ông thường đọc sách rất khuya nếu . . không say.  Tối đó ông đạp xe chở tôi đến nhà Phan Hồng Khánh thường gọi là “Khánh tây” bởi anh vốn là con lai mẹ Việt, bố Pháp. Khuôn mặt anh rất Tây, râu quai nón đen rậm rịt tướng mạo thì dữ nhưng người lại hiền khô , ít nói. Và thơ hay lại chỉ một thể thơ lục bát thật nhuyễn và đắm đuối. Chúng tôi ngồi nhâm nhi ly rượu trắng với mấy củ lạc rang và đọc thơ . Rất ít khi thấy các ông nói chuyện về thế sự đời thường . Hình như nghệ thuật là cái lồng thủy   tinh trong suốt để nhốt mình vào đó , để được thở không khí trong sạch của văn chương. Phan Hồng Khánh có những câu thơ bất ngờ gần với lối ví von liên  tưởng của ca dao. Một ông “đồng  dao” và một ông “ca dao” đều tìm về cội nguồn, mạch nguồn dân tộc. Tôi không hiểu vì sao Nguyễn Trọng Tạo ít khi phổ nhạc thơ mình mà hay phổ thơ người khác nhất là những bài thơ viết về hồn quê đầy chất dân gian. Ông nâng niu chắt chiu chắp cánh thăng hoa  cho mạch cảm xúc của người khác như là một sự cộng hưởng liên tài. Mãi vẫn chưa cạn đêm , từ nhà Phan Hồng Khánh ra còn  tỉnh táo. Phí của. Ông lại  rủ tôi đến Thạch Quỳ. Nhà Thạch Quỳ thì lúc nào cũng rộng mở cửa đón bạn, nhất là những bạn xa   xuống ga tàu Vinh về nhà ông kể cả đêm khuya. Hôm đó Thạch Quỳ mới viết sang tôi thơ “Tôi” đang sướng gặp bạn, đọc luôn: “Tôi cao hơn đất đá  mọi công trình”. Tôi ngồi “hầu rượu” mà như trôi đi trong không khí đầy cảm hứng của hai nhà thơ đàn anh tài năng . Bất chợt Nguyễn Trọng Tạo bảo tôi và được Thạch Quỳ hưởng ứng: Em phải gác lại mấy cái máy đẩy, máy nổ mà đi học trường viết văn Nguyễn Du. Kiếm tiền thế là đủ rồi. Vâng , phải đi học chứ! 

Tôi ra Hà Nội học. Một chiều, đại học văn hóa cạnh trường tôi tổ chức đêm thơ nhạc mời mấy nhạc sĩ  nổitiếng. Tôi đang  viết bài ở tầng hai thì nghe bác bảo vệ gọi xuống có khách. Khách là nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ,tối đó ông được mời với “ Làng Quan họ quê tôi “. Ông bảo tôi đưa đến thăm Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến. Thầy Hiến và cô Nga (vợ thầy) quý ông lắm , hai người hàn huyên trò chuyện như hai người bạn lâu ngày. Một ông “Văn học phải đạo “ từng bị tai tiếng” và một ông “Tản mạn  thời tôi sống” cũng bị tiếng tai, cả hai khá tâm đắc với những đổi mới của văn học đương đại. Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến mở ngăn kéo lấy ra một tập bản thảo chép tay đưa cho Nguyễn Trọng Tạo: “Truyện ngắn tay này khiếp lắm. Nhưng mà tôi viết lời  bạt chúc cho tác gỉa: “Không thuận buồm xuôi gió” trong tập truyện ngắn sắp xuất bản ở nhà Trẻ (NXB Trẻ ở Sài Gòn) . Tôi liếc nhìn tên tác giả : Nguyễn Huy Thiệp - Một người đang  nổi tiếng “Tướng về hưu”. Chiều đó tôi mời ông đi ăn cơm bụi. Quán cơm sinh viên , nhưng tôi quen nên được bà chủ dành cho một bàn phía trong. Bữa cơm hai anh em thật đạm bạc như ngày nào ở thành phố Vinh mà ông đã nấu đãi tôi.  Vẫn cái món: canh riêu cua,   cà pháo và đĩa cá tràu kho tương cùng chai rượu nút lá chuối. Ông bảo tôi đọc thơ gật gù nghe và nhận xét: Chú mày “nạt thơ”. Có một điều thú vị ông và tôi đều viết trường ca về Ngã ba Đồng Lộc. Trường ca của ông “Con đường của những vì sao” viết trước tôi hàng chục năm khi cuộc chiến vừa mới kết thúc, khi ám ảnh chiến tranh còn “ Sặc khói bom trong ngực”. Ngã ba lúc đó còn  ngổn ngang hố bom , đất đai chưa kịp lợp lại màu xanh  lá cỏ. Mộ mười cô TNXP còn là mộ đất, xung quanh là vườn rào bằng tre. Trường ca “Ngã ba Đồng Lộc” của tôi viết khi nơi đây đã xây dựng hoàng tráng thành khu tưởng niệm di tích Ngã ba Đồng Lộc. Mỗi người có một cách đi riêng. Ông là người trong cuộc , đã đến Đồng Lộc những ngày ác liệt với một người bạn phóng viên Báo quân khu 4 , sau này là nhà văn Đào Thắng. Tôi rất thích chương “Khúc hát  10 cây xanh” viết theo thể thơ lục bát như một khúc vĩ thanh trong trường ca của ông …

Khi   viết những dòng này về ông là khi tôi vừa biên tập xong tạp chí Hồng Lĩnh số tháng 12 năm 2018 có chùm thơ  6 bài của ông. Nhà thơ quê cha ở Diễn Châu (Nghệ An) và quê mẹ ở Can Lộc (Hà Tĩnh). Khi chọn bài thơ “ Nhớ Rú Cài” tôi nhận thấy ở ông tình quê thật đậm đà và sâu sắc: “Quê cha lèn Hai Vai-Quê mẹ chân Rú Cài-Nghệ An và Hà Tĩnh-Là tình tôi nhân hai –Lâu lâu tôi về ngoại-Cậu dì chẳng còn ai –Lâu lâu tôi nhớ lại –Một căn nhà ngói dài” và ; “Những bài thơ Rú Cài-Nặng nhớ lèn Hai Vai-Những nỗi niềm nội ngoại –Nối người trong ,kẻ ngoài” 

Những lần về Hà Tĩnh bao giờ ông cũng nhờ chúng tôi đưa đến thăm nhà địa phương học Thái Kim Đỉnh- Người bạn thân thiết với nhà thơ Trần Hữu Thung cùng quê với Nguyễn Trọng Tạo  và được  nhà thơ xem như người  bạn vong niên của mình. Thái Kim  Đỉnh là người hiểu cặn kẽ thông tỏ từng mạch sông ,thế núi của quê hương Hà Tĩnh. Lại một điều rất ngẫu nhiên mà đến nay chúng tôi rất biết ơn nhà thơ là người thiết kế măng - sét trên bìa   tạp chí  Hồng Lĩnh phát triển sáng tạo từ măng - sét của của họa sĩ  Từ Thành . Ông kể : Hôm đó đang hút thuốc  Đun hin , ông nảy ra sáng kiến cho hai chữ cái đầu là H ( Hồng ) và L (Lĩnh) tràn ra vượt ra khỏi bìa như dự cảm về sự phát triển tương lai của tạp chí. Và thế là hình thành một măng - sét mới vừa phóng khoáng vừa bay  bổng lãng mạn như núi Hồng, sông La. Những ngày này ông đang  bạo bệnh, chiến đấu với những   vi – rút gặm nhấm cơ thể ông không thể nhìn bằng mắt thường như ngày trước ông đã chiến đấu với các vi - rút  gặm nhấm tâm hồn con người như trong “Tản mạn thời tôi  sống” – Của cái thời: “ Giá chợ đen ngoảng mặt với đồng lương”  hay : “Bạn bè thân thọc  súng ở bên sườn”. Cầu mong cho ông :“Bạn hãy quên vất vả hàng ngày - Bao lo lắng đời thường làm tuổi xanh ta bạc tóc – Chỉ hy vọng và niềm tim giúp ta thêm sức lực - Câu thơ này xin bạn nhớ giùm cho:- Nhưng bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa”.Vâng, mùa của thời gian và mùa của tình yêu cuốc sống ,của những khúc “Đồng dao không có tuổi “ . .

Nguồn Văn nghệ số 51/2018

Tin liên quan

Sức hấp dẫn của tác phẩm văn chương

Một cuốn tiểu thuyết luận đề, rõ ràng như thế ngay nhan đề tác phẩm Mộng đế vương. Luận đề nhưng dạt ...

Chân dung người lính hậu chiến

​Nhân vật chính của Hạc hồng là anh bộ đội Lương Hải Hựu, sau hơn chục năm trong quân đội thì chuyển ...

‘Trăm năm cô đơn’ lần đầu tiên được chuyển thể thành phim

Netflix mới đây thông báo đã nắm giữ quyền chuyển thể sách “Trăm năm cô đơn’’ của Gabriel García Már ...

Tìm thấy bức chân dung sau 130 năm thất lạc của Charles Dickens

Bức chân dung sẽ được trưng bày tại ngôi nhà cũ của nhà văn, hiện là Bảo tàng Charles Dickens Tây Lo ...

Ba vấn đề cần phải được làm rõ

Tiếp tục câu chuyện liên quan đến bài báo "Những chuyện còn khuất lấp từ việc “xẻ thịt” ngôi nh ...

Thảm sát kinh hoàng tại Mỹ Lai qua loạt sách của Mỹ

Dù thảm sát Mỹ Lai từng bị quân đội Mỹ che giấu, song các học giả, nhà nghiên cứu, nhà báo kiên trì ...

Nhà thơ Xi Chuan (Trung Quốc) nhận giải thưởng văn học Cikada (Thụy Điển)

Theo thông cáo báo chí của Viện Thụy Điển (Swedish Institute), Giải thưởng Cikada 2018 được trao cho ...

TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG VIẾT VĂN NGUYỄN DU CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM MỞ LỚP BỒI DƯỠNG VIẾT VĂN KHÓA XIII NĂM 2019

Thực hiện chỉ đạo của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam năm 2019, Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguy ...

Xuất bản cuốn sách ra đời cách đây hơn 2.500 năm

“Lịch sử” - cuốn sách lịch sử được coi là lâu đời nhất thế giới, với 2.500 năm tuổi, ghi lại đầy đủ, ...

G.E.LESSING - người mở đường của dòng văn học cổ điển Đức

Nhận định về thế kỷ XVIII của Đức, F.Engels cho rằng, về mặt chính trị và xã hội, đó là một "th ...

Rơi trong chơi vơi với An Hạ

Nhân vật của An Hạ Rơi Trong Chơi Vơi là hai người khơi khơi muốn chết, không vì một lý do rõ rệt nà ...

Thấm vị đời qua những thăng trầm dâu bể

Liễu biếc là tập thơ thứ chín của Nguyễn Trác, đó là chưa kể hai tập thơ viết cho thiếu nhi, thơ in ...