ESNETS HEMINGWAY với Chuông nguyện hồn ai


 

Tôi học được ở Hemingway rất nhiều điều. Trước ông, các nhà văn thường kể chuyện về con người, đôi khi kể rất xuất săc. Nhưng Hemingway không bao giờ kể mà là thể hiện về họ. Ở chính điểm này tìm ra lời giải thích ảnh hưởng của ông đối với các nhà văn ở các nước khác nhau. Không phải mọi nhà văn đều yêu thích ông, nhưng rõ ràng tất cả bọn họ đều phải học ông.

Nhà văn Hemingway . Ảnh Internet

Hemingway trẻ hơn tôi 8 tuổi, và tôi đã sửng sốt khi nghe ông kể lại chuyện ông đã từng sống ở Paris vào đầu những năm 1920, hệt như tôi đã sống ở đó 8 năm trước, khi tôi ngồi tại quán cà phê Selekte – bên cạnh quán Rotonda để ước ao những mẩu bánh mì sớm mai thơm phưng phức. Tôi ngạc nhiên vì vào năm 1922, tôi có cảm tưởng những năm tháng anh hùng của Monpanas đã lùi về phía sau và tại quán Selekte đang nhâm nhi những tách cà phê nóng hổi là những khách du lịch giàu có người Mỹ. Hóa ra vào thời diểm ấy còn ngồi đó cả chàng trai Hemingway bụng đói mà vẫn cắm cúi làm thơ và nghĩ ngợi về cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình.

Hồi tưởng lại quá khứ, tôi và ông nhận ra rằng chúng tôi có những người bạn chung: nhà thơ Blez Sandra, họa sỹ Paskin. Hai người bạn này có gì đó giống với Hemingway, có lẽ cũng vì có cuộc sống sục sôi; cũng có lẽ đều mê đắm chạy đuổi theo tình yêu, sự hiểm nguy, cái chết. Hemingway tính tình vui vẻ, gắn bó máu thịt với cuộc sống, có thể kể hết giờ này qua giờ khác về một con cá to chưa từng thấy bơi sát bờ biển Florida; về những trận đấu bò tót; về những niềm mê say đủ kiểu, đủ loại của mình… Một lần, Hemingway đột ngột dừng ngang câu chuyện cá mú, và nói: “Dẫu sao thì trong cuộc sống cũng có những ý nghĩa nào đó… Lúc này tôi đang nghĩ về phẩm giá của con người. Hôm kia gần thành phố Trường Đại học một người Mỹ đã bị giết. Anh ta đã hai lần đến thăm tôi. Một chàng sinh viên… Chúng tôi nói Chúa trời biết tới những điều gì, biết về thơ ca, sau đó biết tới những chiếc súc sích nóng hôi hổi. Tôi đã có ý định giới thiệu chàng thanh niên này với anh. Cậu ta nói rất hay như thế này: Còn gì đáng phỉ nhổ hơn chiến tranh. Nhưng chính ở chiến lũy Madrid này tôi bỗng hiểu vì sao tôi sinh ra. Phải xua đuổi chiến tranh ra khỏi Madrid” - Im lặng một lát, Hemingway nói thêm – “Anh thấy đấy, muốn buông bỏ vũ khí đâu có dễ!

Tôi nhớ thêm một cuộc đàm đạo khác. Hemingway nói rằng, những nhà phê bình nếu không phải là những thằng ngu thì cũng là những thằng giả vờ ngu... “Tôi đã đọc thấy họ viết tất cả các nhân vật của tôi đều là những con bệnh tâm thần. Làm sao khác được khi cuộc sống chó má đến như vậy. Nói chung ra, họ bị coi là tâm thần khi những điều quá xấu xa chất lên đầu lên vai họ. Con bò tót trên đấu trường quả là thần kinh không bình thường, nhưng khi được thả về đồng cỏ nó hoàn toàn tỉnh táo, khỏe mạnh. Vấn đề là ở đó!

Vào cuối năm 1937 từ Teruely tôi trở lại Barselona. Dọc bờ biển những cây cam đã nở hoa. Nhưng ở Teruely chúng tôi vẫn thấy cóng buốt, hắt hơi liên tục. Trên xe đến Barselona bị xe dằn sóc mạnh hóa ra lại ngủ rất say. Tôi chỉ bừng tỉnh khi có ai đó lay mạnh vai tôi: Hemingway xuất hiện ngay trước mặt. “Sao, chọn Teruely à? - Hemingway nói - Mình tới đây với Kapa!”. Trên bậu cửa là bạn tôi, nhà nhiếp ảnh Kapa (Anh đã hy sinh trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương). Tôi đáp: “Tôi không quyết định. Hình như mọi chuyện đã khá hơn… Mọi người nói rằng bọn phát xít đang điều động thêm quân dự bị”. Tôi bừng tỉnh hẳn, dướn mắt ngạc nhiên nhìn Hemingway: ông vận trên mình trang phục mùa hè. “Anh điên rồi sao? Vẫn còn lạnh cắt da cắt thịt”. Nhà văn cất tiếng cười: “Mình biết tự sưởi ấm chứ!”, vừa nói ông vừa kéo từ chiếc túi hộp phía sau quần ra chai rượu uytxky. Nom ông tỉnh táo, cười liên tục: “Tất nhiên còn khó khăn… Nhưng dẫu sao bọn phát xít cũng đang bị xé lẻ…”. Tôi trao cho ông địa chỉ những người chỉ huy quân Tây Ban Nha để ông tìm Grigorovist: “Anh ta sẽ giúp bạn!”

Chúng tôi chia tay theo kiểu người Tây Ban Nha vung tay vỗ mạnh lên vai nhau. Hemingway còn giữ được một tấm ảnh chụp hồi đó: Tôi ngồi trên giường, ông ta đứng bên tôi. Tấm ảnh này được đưa vào một cuốn sách xuất bản tại Mỹ về cuộc đời của ông.

Cuối tháng 6 năm 1938 tôi trở lại Tây Ban Nha. Hemingway không còn ở đó. Hình ảnh ông trong ký ức của tôi là một chàng trai trẻ, dáng cân đối. Tôi không còn nhận ra ông nữa, khi mười năm sau tôi nhìn thấy ông trong một bức ảnh: Hemingway đã là một ông già phục phịch với hàm râu bạc trắng.

Tôi gặp lại Hemingway một lần nữa vào cuối tháng Bảy năm 1941. Tại Moskva hầu như đêm nào cũng có còi báo động phòng không, người ta xua chúng tôi xuống hầm. Muốn ngủ cho đủ giấc tôi cùng với B.M Lapin quyết định qua đêm tại khu nhà nghỉ bỏ trống của Visnhevsky tại Peredenkino. Người ta chuyển cho tôi bản dịch tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai của Heminway. Thế là vẫn mất ngủ, tôi và Lapin truyền tay nhau đọc hết trang này tới trang khác cuốn tiểu thuyết. Sáng hôm sau Lapin đáp tầu đi Kiev và anh đã không trở về nữa. Súng phòng không vẫn kiên tục nhả đạn lên trời, còn tôi vẫn đọc và đọc. Tiểu thuyết viết về Tây Ban Nha, về chiến tranh. Đọc hết trang cuối tôi cất tiếng cười một mình. Đó là một cuốn sách rất buồn… Và trong sách là niềm tin ở con người, là tình yêu tuyệt vọng mà thánh thiện,là chủ nghĩa anh hùng của một nhóm du kích hoạt động phía sau lưng quân thù do Robert Dzordan, một người lính tình nguyện Mỹ chỉ huy. Những trang cuối của cuốn tiểu thuyết là sự khẳng định cuộc sống, lòng dũng cảm, chiến công. Robert Dzordan nằm trên đường với đôi chân dập nát, yêu cầu đồng đội của anh nhanh chóng hành quân. Anh ở lại một mình với một cây súng tiểu liên. Anh có thể tự kết liễu đời mình, nhưng anh vẫn muốn được chết khi giết thêm vài tên phát xít. Hemingway tìm tới với lời độc thoại nội tâm, và đây một trích đoạn ngắn: “… Mọi điều sẽ diễn ra thật tuyệt vời khi có một viên trái phá rơi trúng nơi này - anh nghĩ - Nhưng sẽ còn hạnh phúc hơn khi quả đạn rơi lúc mình đã xuống được dưới gầm cầu. Thời gian trôi đi sẽ gíúp mình khỏe hơn, tỉnh táo hơn. Những làn sóng điện là thứ chúng ta đang cần. Quả là chúng ta đang cần nhiều thứ. Vì như mình có được một chiếc chân dự phòng… Mà nghe đây, cũng có thể mình không kịp làm điều đó, khi bỗng nhiên mình ngất đi. Bọn chúng sẽ tóm cổ mình, bắt mình trả lời hết câu này tới câu khác… Điều đó thật không tốt!...”. Và đoạn độc thoại nội tâm ấy kết thúc như sau: “Thật hạnh phúc cho Robert Dzordan đã không phản bội lại mình, bởi vì rằng vào chính giây phút đó đội kỵ binh đã phóng ra khỏi rừng, cắt ngang con đường...

Tên gọi của cuốn tiểu thuyết này Heminway lấy từ những vần thơ của một nhà thơ Anh thế kỷ 17, Djon Donn. Những vần thơ ấy có thể trở thành lời đề từ cho tất cả những gì Hemingway đã viết. Thời buổi đã đổi thay, ngay cả bản thân nhà văn cũng đổi thay, nhưng trong Hemingway mãi mãi còn lại cảm xúc của mối quan hệ giữa một người với tất cả mọi người, điều mà chúng ta thường gọi theo kiểu sách vở là “chủ nghĩa nhân văn”.

Sau khi Hemingway qua đời, tôi đã đọc được bài báo trên một tờ báo Mỹ, một nhà phê bình đã gắng thuyết phục mọi người tin rằng cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha đối với nhà văn cũng chỉ là một khoảnh khắc tình cờ giữa những cuộc đấu bò tót và những lần đi săn tê giác. Điều này thật là sai. Hemingway không phải ngẫu nhiên ở lại giữa thành phố Madrid bị vây hãm; không phải ngẫu nhiên trong thời gian Thế chiến hai vốn là một phóng viên chiến tranh, ông có thể ngồi ở các ban tham mưu, nhưng Hemingway lại lên đường hành quân cùng những người du kích Pháp; cũng không phải là ngẫu nhiên Hemingway đã lên tiếng chào mừng thắng lợi của những người ủng hộ Phiden Castro. Trong cuộc đời, ông có những đường hướng riêng của mình.

Vào tháng 8 năm 1942, giữa lúc thời tiết rất xấu, tôi đã ghi vào nhật ký: “Mình rất muốn được gặp Hemingway sau những ngày chung lưng chống phát xít ở Tây Ban Nha. Chúng ta cần phải bảo vệ cuộc đời này. Chính ở đây là thiên chức của thế hệ bất hạnh chúng ta. Còn nếu mình không làm được điều này, thì nhiều người trong chúng ta chính mắt mình cũng sẽ được chứng kiến khúc hoan ca của cuộc đời; kể cả những ai không còn nhớ tới anh lính Mỹ với đôi chân dập nát đã cố thủ trên khúc đường kia với khẩu tiểu liên trong tay và một trái tim lớn”.

Cuốn tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai cũng chịu nhiều lời thóa mạ, sỉ nhục. Ông già và biển cả; tuổi trẻ và cuộc chiến tranh vì phẩm giá của con người. Những người khác nhau chửi rủa cuốn sách theo những cách khác nhau. Một số phẫn nộ vì cho rằng Hemingway biện hộ cho chiến tranh và vì săn đuổi cái nhất thời nhà văn đã quên mất nghệ thuật. Số khác tỏ ra không thích lối miêu tả quá kỹ, quá chi tiết những gì xẩy ra trong một cuộc nội chiến.

Vào mùa xuân năm 1946 khi tôi sang Mỹ, tôi bỗng nhận được bức thư của Hemingway. Ông bảo tôi sang Cu Ba với ông và với những gì dịu dàng, nâng niu ông nhắc nhở tới những kỷ niệm thuở hai chúng tôi ở Tây Ban Nha. Chuyến đi của tôi sang Cu Ba không thành. Không lâu trước ngày ông về với thế giới tổ tiên, Hemingway đã chuyển tới tôi lời chào và niềm trông đợi chúng tôi sẽ gặp nhau một ngày không xa.Tôi cũng hy vọng như thế…

Còn đây là bức điện tín đăng trên báo… Đã nhiều lần báo giấy, radio loan tin về cái chết của Hemingway. Ví như vào năm 1944. Hoặc 10 năm sau là tin một chiếc máy bay bị nổ tung trên vùng trời Uganda, trên máy bay có ông. Sau đó lại có tin cải chính. Bây giờ thì không cải chính được nữa rồi. Hemingway chưa bao giờ kể với tôi cụ thân sinh của ông là một bác sỹ. Và ông cụ đã tự kết liễu đời mình. Tôi chỉ được biết điều này từ những người bạn chung của hai chúng tôi. Nhân vật trong cuốn Chuông nguyện hồn ai vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời đã nghĩ: “Tôi không muốn làm những gì cha tôi đã làm. Tôi sẽ làm, nếu thấy cần thiết, nhưng tốt hơn cả là thấy không cần thiết. Tôi phản đối điều đó. Tôi không muốn nghĩ tới nó”. Hemingway đã quyết định không giống như nhân vật Robert Djordan của ông. Cái chết như ập ngay tới cuộc đời ông; một cái chết có thể nói là không một chút chống đỡ, gắng gượng; chết như là sống vậy.

Còn tôi khi ngoái lại chặng đường đời đã qua của mình, tôi nhìn thấy trong số những nhà văn tôi may mắn được gặp gỡ, có hai nhà văn không chỉ đã giải thoát tôi khỏi sự ủy mị, yếu đuối; khỏi những tự biện dài dòng; những tầm nhìn ngắn ngủi… để đơn giản ra tôi được thở, được làm việc, được đứng vững trên đôi chân của mình - đó là Babel và Hemingway.

Tô Hoàng chọn dịch

(Từ tác phẩm Con người, Năm tháng, Cuộc đời của nhà văn Nga - Xô Viết ILYA ERENBURG)

 

Tin liên quan

Ngô Tất Tố - một sự nghiệp lớn trên cả hai tư cách

Nghiệp văn của Ngô Tất Tố là nằm trọn nửa đầu thế kỷ XX, thế nhưng người đọc vẫn không một chút e dè ...

Murakami và hình ảnh văn học Nhật Bản trên thế giới

Những thập niên gần đây, sự đa dạng và áp đảo trong các bản dịch tiểu thuyết của Haruki Murakami đã ...

Kỷ niệm lần thứ 94 ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2019): BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU PHONG CÁCH BÁO CHÍ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự nhận là “một người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Hoạt động báo ...

"Long thần tướng 2" là truyện tranh ấn tượng nhất tại Madrid.

Tập một bộ truyện lịch sử này ra mắt từ năm 2014, tới nay đã có bốn tập được xuất bản. Tập một bộ tr ...

Idaho, đoạt giải văn học quốc tế Dublin 2019

Với cuốn tiểu thuyết Idaho, nhà văn nữ khá mới Emily Ruskovich đã nhận giải văn học quốc tế Dublin t ...

Bên trong tháp Babel của dịch thuật

​Nếu ví dịch thuật giống như cây cầu – cũng là một ẩn dụ thông dụng cho khái niệm này – thì một khi ...

Vinh danh tác phẩm kịch bản Văn học có giá trị

Nhân hai dịp kỉ niệm lớn của dân tộc: 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 – 2019) và 75 năm ngày ...

Dạ hội kỷ niệm 220 năm ngày sinh A.S. Pushkin

Dạ hội kỷ niệm và Lễ trao giải Cuộc thi giáo viên dạy giỏi tiếng Nga toàn quốc đêm 6/6/2019 là sự ki ...

Người thơ Trúc Thông

Tôi muốn gọi anh là Người Thơ. Người Thơ chứ không phải nhà thơ. Thơ vốn không phải là một nghề mà l ...

Thẩm định đợt I cuộc thi “Bạn đọc thuộc Kiều”

Sáng ngày 8/6, tại Hà Nội, Hội Kiều học Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Hà Tĩnh, Đài tiếng nói Việt ...

Ra mắt tiểu thuyết trinh thám “Hạn chót lúc bình minh”

“Hạn chót lúc bình minh” của tác giả Cornell Woolrich vừa được Phúc Minh Books phối hợp với NXB Văn ...

Hình họa Nhật Bản: Tái định vị hình ảnh của nghệ thuật Nhật Bản

Xã hội Nhật hiện đại được nhà triết học, xã hội học Michel de Certeau mô tả như là “một xã hội được ...