Đời như thoáng chốc


Tiệm giặt là quần áo của ông Kình được dựng trên một phần đất thuộc khu đất trống đầu phố Bần, bên phải đường quốc lộ 5 theo hướng đi Hà Nội. Khu đất trống đó dĩ nhiên là có chủ nhưng người chủ đã để hoang mấy chục năm nay. Nghe nói người chủ của khu đất trống này có tận mấy căn nhà to uỳnh trên Hà Nội nên cứ để hoang như thế. Ngày ông Kình đến khu đất hoang này dựng gian nhà tre, vách trát bùn rơm, mái lợp ngói tây là giữa năm 1969. Cũng năm đó gia đình tôi chuyển từ Hải Dương về phố Bần, quê của mẹ tôi.

Minh họa của ĐỖ DŨNG

Nói đôi chút về phố Bần. Đó là một dẫy phố dài chừng hơn 800 mét, một dẫy phố kiểu Hà Nội, nghĩa là dẫy phố được quy hoạch khá chuẩn. Hai bên là những ngôi nhà cái thì một tầng, đa số, cái thì hai tầng, thiểu số. Nhà của người phố Bần có thiết kế na ná nhau. Nhà nào có mặt tiền rộng thì cửa ra vào chính giữa, hai bên là cửa lùa. Nhà có mặt tiền bé hơn thì cửa ra vào lệch bên trái, bên phải là cửa lùa. Sáng sáng người phố Bần tháo từng tấm gỗ ở bên cửa lùa ra khỏi bậu cửa tạo thành một không gian cho bán hàng hay mở cửa hiệu làm nghề. Do vậy hàng hóa hay bàn tủ làm nghề không bao giờ lấn ra khỏi bậu cửa, tức là không lấn tới vỉa hè. Khoảng vỉa hè khá rộng không chỉ trồng hàng sấu lá xanh rì mà bọn trẻ con chúng tôi còn có thể rủ nhau đá bóng ở đấy.

Bọn trẻ con thường gọi là “ông Kình”. Trong tâm trí của tôi thì đó là một người đàn ông dáng nhỏ thó có ánh mắt lanh lợi nhưng đặc biệt là chân trái bị cụt đến đầu gối. Để đi lại ông Kình bao giờ cũng cặp kè chiếc nạng gỗ bên sườn. Những bước đi có vẻ không tự nhiên nhưng ông Kình chưa bao giờ cảm thấy khó khăn cả. Ông kẹp nạng gỗ vào sát sườn, hình như chiếc nạng gỗ còn được buộc chặt với thân người và phần đùi để tay trái được thoải mái làm những việc khác. Không có gì là khó khăn hay vướng víu.

Ông Kình năm đó mới ngoài bốn mươi nhưng ai đã gặp thì cũng đều nghĩ ông đã vào tuổi lục tuần. Khuôn mặt gày hốc, da đen đen và nhất là cái đầu húi cua với những chân tóc chấm bạc nom già đanh. Đó có lẽ là đặc điểm để bọn trẻ con phố Bần gọi là “ông Kình”.

*

Giữa năm 1969 ông Kình trở lại Bần. Ông từ Trại thương binh tận trong Ninh Bình khập khễnh đôi chân bước tới cổng nhà mình. Nhà ông Kình ở trong làng chứ không phải ở ngoài phố. Anh thương binh tên là Kình tần ngần đứng trước cổng. Anh đứng như thế rất lâu như thể để nhận diện lại ngôi nhà của mình. Xa nhà cũng lâu rồi, mười năm chứ đâu có ít, anh cứ cấn cá mãi chưa dám cất tiếng gọi. Hình như anh cảm có chuyện không hay gì đó.

Trong nhà vắng hoe, cửa đang mở hé chứng tỏ có người ở nhà, rồi anh Kình cũng đánh tiếng. Từ trong nhà có một người đàn bà tầm ngoài ba mươi trên tay bế đứa trẻ lên hai, tất tả bước ra. Người đàn bà đó đưa tay đẩy cánh cổng. Hai mắt của họ chạm nhau. Ông Kình tròn mắt ngạc nhiên. Người đàn bà chủ nhà tròn mắt kinh hãi. Họ đều đã nhận ra nhau. Bỗng người đàn bà khóc tu tu, tiếng khóc không phải tiếng khóc mừng của người vợ khi gặp lại người chồng mà đó là tiếng khóc não nề. Hồi sau người đàn bà cố gạt nước mắt nói, giọng đứt từng câu “U… u mất… ba năm rồi… u không... không đợi… đợi được anh… anh về”. Anh Kình thấy nghẹn ngào, anh nhìn vào đứa trẻ và hỏi: “Con ai đấy?”. Người đàn bà giật thót mình, mắt cúi len lén rồi lại bật khóc, tiếng khóc lần này có vẻ lắng hơn nhưng nghe đắng chát “Nó… là con em”.

Vào nhà mình mà anh Kình thấy sao lạ lẫm, chuyện xa mười năm đâu có gì, mà chính là chuyện kia kia. Anh Kình không nói không rằng, giấu ánh nhìn đi hướng khác, khóe mắt rân rấn, anh đứng khập khễnh rồi lặng lẽ mở ba lô lấy ra những thứ quà mà anh đã chuẩn bị rồi đưa cho người đàn bà. Chị đã thôi khóc nhưng vẫn còn nghe thấy những âm thanh nơi cuống họng. Chị cũng giấu mặt không dám nhìn vào chồng, đầu cúi gục, nói trong tiếng nấc “Anh… đã về. Anh còn sống để… về nhà là… tốt lắm rồi”. Người đàn bà thôi nói, chị như cúi gục đầu hơn, lát sau chị ngẩng lên nói giọng dứt khoát: “Em đợi anh về. Đợi anh về để trả lại nhà cho anh. Mẹ con em xin đi luôn”. Anh Kình vội xua tay “Cô… cô tính đi đâu? Đến quê mình chỗ nào còn không biết nữa là… cô và cháu cứ ở đây. Không đi đâu hết. Đây là nhà của cô”.

Nói rồi anh Kình khoác ba lô bước nhanh ra ngoài ngõ. Người đàn bà xốc đứa trẻ toan chạy theo nhưng thấy động tác đóng cổng của anh Kình thì đứng lại. Chị bần thần ánh mắt. Đứa trẻ chợt khóc ré lên sợ hãi. Tiếng khóc của đứa trẻ làm người đàn bà tỉnh lại, chị ôm chặt đứa bé, ngoái mắt trông theo bóng anh Kình vừa hút.

Đứng rất lâu bên mộ mẹ, anh Kình bấy giờ mới khóc. Không hiểu đấy là tiếng khóc nhớ thương người quá cố hay là tiếng khóc than cho phận mình. Đôi vai anh rung lên, rung lên từng chặp. Cúi đầu chắp tay bái mấy bái, anh Kình xốc lại ba lô đi về phía đường cái, chỗ anh vừa đứng hằn một cái lỗ tròn tròn. Anh Kình vẫy chiếc xe tải đang chạy tới xin đi nhờ lên Hà Nội. Anh ở Hà Nội đâu như hai ngày rồi người phố Bần lại thấy anh khoác ba lô về. Anh nhờ người dựng giúp căn nhà tạm, đó là tiệm giặt là quần áo đồng thời cũng là nơi để ở. Thế mới có chỗ mà bọn trẻ con chúng tôi la cà tới. Tới đấy tự dưng chúng tôi thấy hay hay. Mà cũng không biết là hay hay cái gì nhưng thấy hay hay nên chúng tôi hay tới.

Hàng chiều, không phải đi học tôi đến và ngồi trên bậu cửa, chân hướng ra ngoài người xoay vào trong, tôi chăm chú nhìn từng động tác của ông Kình. Ông Kình không đuổi chúng tôi đi chơi chỗ khác mà ông ngẩng lên nhay nháy mắt, cử chỉ thân thiện đó thấy gần gần, ông chỉ nói nhỏ giọng nghe nghiêm khắc: “Chơi thì được nhưng đùa nghịch thì không”.

Tiệm giặt là quần áo của ông Kình dạo ấy khá đông khách, tuy nhiên gọi là giặt là nhưng ông Kình chỉ nhận là quần áo. Người phố Bần có mức sống cũng bình thường, chỉ hơn người làm ruộng chun chút nhưng cái dẫy phố hao hao Hà Nội nên người nơi đây cũng ăn mặc hay nói năng đều hao hao cho nó giống Hà Nội. Như vậy tiệm giặt là quần áo của ông Kình mới có khách thường xuyên.

Những chiếc bàn là được chế bằng gang pha thép, cầm chắc nịch, phần mặt để là nhẵn thín và sáng bóng, nó từa tựa như bàn tay khum khum. Ông Kình đặt những chiếc bàn là ấy lên giá thép thanh xếp kiểu nan thưa phía dưới là lò than rực hồng, không một làn khói, không một ngọn lửa. Ông Kình dùng bao lót tay dầy uỵch để nắm lấy tay cầm của chiếc bàn là, ông đưa mặt trong của chiếc bàn là lên ngang má phải; ông bảo đó là cách thử nhiệt độ của bàn là xem đã đạt yêu cầu về nhiệt chưa, nếu chưa ông lại đặt xuống lò than, nếu được thì ông di di vài lần chiếc bàn là vào góc tấm chăn dạ rồi mới nhẹ nhàng lướt trên quần áo. Tôi lại hỏi “Sao ông phải làm như thế?”. Ông Kình cười “Chùi qua cho nó sạch hẳn. Là quần áo cho khách mà bị vàng, bị đen là mất tiền luôn”. Nghe những câu giảng giải ấy tôi thực sự tin rằng: Là quần áo đâu có đơn giản.

*

Mẹ tôi kể.

Chú Kình với mẹ bằng tuổi nhau, cùng một thời chăn trâu cắt cỏ nên cứ mày tao mà gọi. Đầu năm 1945, đói kinh khủng, nhà chú Kình nghèo nhất làng. Thày chú mất sớm, nhà một mẹ một con đùm túm nuôi nhau thành thử tuy đã mười bảy tuổi nhưng chú Kình còi cọc như mới mười hai, mười ba.

Đầu năm Ất Dậu thì chú Kình được ông Hoành, một người họ hàng xa với thày chú Kình đón lên Hà Nội. Ông Hoành giàu lắm, có nhiều cửa hàng cửa hiệu, đấy khu đất hoang gần bờ sông là của ông Hoành đấy. Ông Hoành đón chú Kình lên Hà Nội cho làm công ngay hiệu giặt là của ông ấy. Thế là chú Kình có việc làm, vài ba tháng chú xin về Bần thăm u, chú đưa cho u cho ít tiền mà chú dành dụm được. Nhờ đó mà tuy ở nhà một mình nhưng u chú Kình thỉnh thoảng có được bữa ăn no.

Chú Kình tuy gày nhỏ nhưng được cái chịu khó và cũng khéo tay, chú làm công trong hiệu giặt là suốt từ đó cho đến năm năm chín thì chú đi bộ đội. Trước ngày đi bộ đội thì chú về làng, lần này dẫn theo cô Thảo. Chú nói với u chú rằng: “U đem tiền này đi mua ít thịt lợn với gà”. U chú thấy làm lạ hỏi lại “Mua thịt với gà làm gì?”. Chú Kình cười rất vui: “U làm mâm cơm cúng thày con rồi mời bà con cô bác lại nhà mình xơi cơm”. U chú lại thắc mắc: “Có chuyện gì mà mời cơm”. Chú Kình cười vui hơn: “Để mọi người biết con lấy vợ”. Nói rồi chú dẫn cô Thảo đến đứng trước ban thờ, chú châm nén hương, mời mẹ chú lại đứng bên, chú khấn vái: “Thảo từ hôm nay là con dâu của nhà mình”. Chú khấn vái có thế rồi quay sang nói với mẹ: “Mấy hôm nữa con đi bộ đội Thảo sẽ ở nhà cùng u. U vui không”. Mẹ chú cười hớn hở, ngân ngấn nước mắt.

Cô Thảo kém chú Kình cũng phải hơn mười tuổi. Cô Thảo được ông Hoành đón vào nhà trùng với dịp ông Hoành đón chú Kình từ quê lên. Sáng đó ông Hoành ra mở cửa hiệu thì thấy một con bé độ năm sáu tuổi đang nằm lả đi bên xác người mẹ đã chết. Cảm thương vì thấy con bé còn sống nên ông Hoành gọi người nhà cho đón vào nhà. Con bé được húp nước cháo nên tỉnh, hỏi tên nó thì nó lắc đầu bảo là u nó gọi nó là con Hĩm, hỏi tên thày u nó thì nó bảo là thày u, hỏi quê ở đâu thì nó lại lắc đầu. Ông Hoành đặt cho con bé tên là Thảo, cái tên gợi mong muốn là thảo hiền.

Cô Thảo lớn lên rồi cũng làm công trong nhà nhưng là con gái nên cô chỉ giặt quần áo cho khách. Đứa con gái quê đói lả được ăn được ngủ nên chẳng mấy chốc lớn phỏng phao, ra dáng thanh nữ lắm. Có lần ông Hoành rủ rỉ với anh Kình: “Hay là tôi tác thành cho anh với con Thảo”. Chú từ chối vì nghĩ mình nghèo, nhà neo người nếu lấy cô Thảo thì cô Thảo sẽ khổ. Cô Thảo hình như cũng được ông Hoành nói thầm hay sao nên cứ nhác thấy bóng chú Kình là cô đỏ mặt. Đỏ mặt rồi nhìn trộm anh Kình chứ không dám nói năng gì. Mẹ tôi bảo: “Chắc là hồi đó cô Thảo cũng ngại mình côi cút, quê hương đâu không biết, làm vợ người ta thì người ta thiệt thòi”.

Câu chuyện tác thành đôi lứa lây rây hai ba năm mà chưa thực hiện được. Ông Hoành không ép nhưng trong bụng ông thầm nghĩ cách. Cái chính là ông muốn hai người con nghèo khổ, mồ côi này dựa vào nhau mà chung sống. Họ có hoàn cảnh tương tự nên chắc dễ cảm thông, tình cảm chắc bền. Hơn nữa cũng đã đến lúc ông Hoành không còn phải cưu mang nữa. Thành vợ thành chồng không khéo lại hay.

Cái cách mà ông Hoành đang nghĩ chợt đến. Hôm nghe chú Kình thưa rằng sẽ đi bộ đội thì ông Hoành thấy cơ hội đã tới, ông không nói năng gì mà ông kéo tay chú Kình lại bên cô Thảo, lúc ấy cô Thảo đang ngồi vò nốt chậu quần áo, ông Hoành nói như ra lệnh “Hai đứa chúng mày lấy nhau đi – Ông Hoành quay sang nghiêm nét mặt nói với anh Kình - Con Thảo về làng chăm u thay anh. Có thế tôi mới cho anh đi bộ đội”. Chú Kình gật đầu đồng ý sau khi thấy ánh mắt của cô Thảo nhìn chú vẻ chờ đợi.

Chú Kình và mẹ tôi tình cờ gặp nhau đúng vào cái hôm chú dẫn cô Thảo về làng, mặt chú tươi hơn hớn. Mẹ tôi bảo “Nghe nói chú lấy vợ”. Chú Kình càng tươi hơn hớn, chú nói “Em không được như chị (Chú Kình khiêm tốn gọi mẹ tôi là chị và xưng em). Chị thoát ly đi kháng chiến rồi thắng lợi trở về làm cán bộ trên tỉnh. Lần này em đi bộ đội để phấn đấu chị ạ”. Mẹ tôi động viên “Cố tranh thủ nâng cao văn hóa, có văn hóa mới phấn đấu tốt được. Còn cô ấy thì tôi sẽ giúp”.

Mẹ tôi nói thế và giúp cô Thảo thật. Là cán bộ trên tỉnh nên mẹ tôi không khó trong việc xin cho cô Thảo vào làm người nhà nước. Cô Thảo làm nhân viên tạp vụ của cửa hàng ăn uống Phố Nối. Hồi trước cứ hễ đã vào làm cơ quan nhà nước là được ăn lương, được cấp sổ gạo. Cô Thảo làm tạp vụ lương tháng 36 đồng, gạo sổ 13 cân hàng tháng nên cũng tàm tạm. Lá thư đầu tiên gửi lên chỗ huấn luyện cho chú Kình cô Thảo đã báo tin đó.

*

Ông Kình đặt chiếc bàn là lên bếp lò, ông vuốt vuốt chiếc quần vừa là xong và treo lên mắc. Ông quay nhìn tôi hỏi: “Mày có tin là có cô Tấm không?”. Tôi ớ ớ chưa hiểu ông Kình nói chuyện gì. Ông Kình nói tiếp: “Có cô Tấm thật mày ạ”.

Từ hôm ở hẳn ngoài tiệm giặt là ông Kình ăn uống một mình. Sẵn bếp than rực hồng, tầm vãn việc là ông đặt nồi cơm ăn cho cả ngày. Bữa nay ông bảo tôi ở lại ăn trưa cho vui: “Có mớ rau ngon mới được cho nên tao mời mày ăn cùng”. Tôi thấy lạ hỏi: “Rau có người cho ông à?”. Ông Kình gật đầu: “Ừ. Chắc là cô Tấm cho đấy”.

Thì ra cứ vài ba buổi khi ông Kình mở cửa tiệm là thấy ngoắc ở ngoài cửa khi thì mớ rau khi thì nải chuối. Ban đầu ông nghĩ ai đó tình cờ đi qua ngoắc tạm đấy rồi quên. Ông không cất đi mà cứ để đấy đề phòng ngộ nhỡ người ta quay lại tìm thì còn thấy nhưng chờ mãi không thấy ai tới. Mấy ngày sau lại thế nên ông đoán chắc có ai thương mình nên đem cho. Người đem cho rau với chuối ấy chắc ngại nên không đánh tiếng, chắc ngại nên ngoắc đấy đợi ông ra mở cửa sẽ thấy mà đem dùng.

Nhưng thấy thế cũng không ổn. Người ta là ai mà đem cho mình chứ. Thương anh thương binh cô đơn à? Nghĩ vậy nên một sớm ông Kình đoán là sáng nay thể nào cũng có người đem cho rau. Ông dậy sớm hơn và đi ra ngoài, cửa khép chặt như đang khóa bên trong. Ông núp sau gốc cây sấu cách tiệm một đoạn đủ để quan sát. Lâu sau có một dáng người lặng lẽ lại trước cửa tiệm. Người ấy nhìn quanh rồi ngoắc mớ rau lên cánh cửa. Ông Kình đột ngột xuất hiện. Ông e hèm một tiếng nhỏ nhưng cũng đủ để người kia giặt thót mình.

Ông Kình nhận ra đấy là cô Thảo. Cô Thảo cúi đầu nói lí nhí: “Anh… anh cho em được làm phận sự của mình”. Ông Kình thấy cay cay sống mũi. Cô Thảo dạo này gày quá. Đâu rồi cái dáng thanh nữ phỏng phao hồi nào? Họ cứ đứng im như thế, chân tay hình như không ai nhúng nhíc nổi. Mãi ông Kình nói: “Cô đợi tôi mấy phút”. Nói rồi ông vào nhanh trong nhà, lát sau ông bước ra “Tôi cho cháu ít tiền. Cô cầm về mua quần áo mới cho nó. Trẻ con thích quần áo mới lắm”.

Cô Thảo từ chối, định quay đi thì ông Kình níu tay nói “Cô cũng cho tôi được làm phận sự của mình”. Cô Thảo tần ngần không biết nói ra sao, cô run run cầm tiền rồi bật khóc, cô thút thít như trẻ nhỏ, cô hỏi: “Anh ở một mình có… có khỏe không?”. Nói xong câu đó cô Thảo quay ngoắt đi như chạy. Cô chạy vào làng như chạy trốn. Ông Kình đứng lặng buông tiếng thở.

*

Tầm gần trưa chủ nhật điện thoại di động của tôi kêu réo rắt. Phía máy bên kia một giọng nam nghe mêu mếu: “Bác ơi. Ông em đi rồi”. Cố trấn tĩnh lại để xác định tôi nhận ra đó là giọng thằng Bất. Tôi vội nói hỏi: “Vừa làm lễ đại thượng thọ cho ông mà?”. Giọng thằng Bất vẫn mêu mếu: “Vâng, mới mười ngày trước ạ. Sáng nay cứ nghĩ ông em mệt nên nằm cố ai dè ông em cứ thế mà đi”. Tôi hỏi thêm: “Thế sao chú biết mà về?”. “Em cũng không biết nữa. Chiều tối qua tự dưng vợ em nó rủ: “Mình về Bần thăm ông bà đi anh. Đúng là có linh cảm thật bác ạ”.

Có lần tôi hỏi mẹ tôi “Thằng Bất là con của ai hả mẹ? Mà tại sao cô Thảo lại đặt tên nó là Bất. Cái tên nghe sao sao ấy”. Mẹ tôi ngập ngừng ý không trả lời nhưng thấy tôi cứ đứng đấy chờ đợi thì nói nhỏ: “Nó là con cô Thảo”. Tôi chưa chịu: “Con cô Thảo thì con biết rồi nhưng bố nó là ai? Bọn chúng nó cứ nói thằng Bất là con hoang”. Mẹ tôi sậm mặt tỏ thái độ không hài lòng. Lát sau mới nói tiếp: “Chú Kình thiệt thòi từ bé. Mà con còn lạ gì chuyện đàn bà vắng chồng. Ở làng hễ có ai là đàn bà góa hay có chồng đi vắng lâu ngày là cánh đàn ông mon men lại ngay”. Tôi chỉ nghe được đến vậy, mẹ tôi dường như không muốn gieo vào đầu tôi những chuyện người lớn nên lảng đi xuống bếp.

Theo như bọn trẻ kháo nhau thì thằng Bất là con do cô Thảo kiếm được. Cô kiếm ở đâu và của ai thì cũng có lắm sầm sì. Người thì nói của người đàn ông nào đó trong làng này? Người thì bảo cô Thảo lang chạ lần cô đi lên Hà Nội có việc, lần đó đâu như sau ngày u ông Kình mất? Bàn cãi mãi cuối cùng chẳng ai nói nữa, chuyện gì rồi cũng qua đi, đang thời chiến tranh hơi đâu mà để ý đến những chuyện riêng tư mà lại là riêng tư không hay ho gì.

Đầu tiên là tên gọi của thằng con ấy. Cô Thảo đặt tên cho con của mình là Bất, cái tên thế nào ấy. Người thông cảm bảo: “Tên Bất là bất đắc dĩ”. Người sâu sắc nói: “Tên Bất là bất chung thủy”. Tôi ngẩn người ra nghĩ rồi nhủ: “Thằng Bất không có bố kể cũng thiệt”.

Lại có lần tôi hỏi mẹ: “Sao ông Kình không về nhà mình để ở hả mẹ. Ông ấy là thương binh đi lại khó khăn cũng cần có người giúp đỡ hàng ngày chứ?”. Lần này mẹ tôi không lảng đi, mẹ tôi nói nhỏ: “Đàn ông họ có cái tự trọng của họ. Thằng Bất không có lỗi nhưng lỗi là tại tâm lý người đời. Đứa con nó như cái gai chọc vào mắt ấy”. Mẹ tôi nói thế rồi lại lặng im, vài giây sau nói tiếp: “Cô Thảo cũng khổ. Hoàn cảnh rất đáng thương chứ không đáng trách”.

Nghe mẹ tôi nói vậy tôi không hỏi nữa. Tôi đã vào cái tuổi thanh niên nên chuyện đời cũng mang máng hiểu. Đúng là cô Thảo tội nghiệp thật. Mồ côi cha mẹ. Lấy chồng chưa được đủ đầy đã xa chồng biền biệt. Những năm ông Kình đi bộ đội là những năm chờ đợi dài đằng đẵng. Mấy tháng đầu còn có thư đi thư về rồi sau bặt hẳn. Mẹ chồng với con dâu ở với nhau như hai người đàn bà góa ở chung cùng dưới một mái nhà vậy. Ngày mẹ chồng mất cô Thảo như hóa dại. Cô khóc tức tưởi, người trong làng nói thầm: “Cô ấy khóc cho thân phận mình”.

Mẹ tôi chợt nói: “Cô Thảo nhiều lần gặp chú Kình. Cô ấy không còn khóc nữa. Mà khóc thì có tác dụng gì”. Dạo đó tôi có nghe nói cô Thảo vài ba bữa là thầm đảo qua chỗ ông Kình, cô đứng nấp sau cây sấu ở bên kia đường nhìn trộm ông Kình. Cô xem xem ông Kình có khỏe không, có cần gì không. Cô đứng nấp lâu lâu rồi tủi tủi quay vào làng.

Một bữa ông Kình phát hiện ra. Ông bước sang đường tới gốc cây sấu nơi cô Thảo đang núp, cô Thảo không ù chạy mà đứng yên nhìn ông vẻ mặt cô đầy lo nghĩ. Ông bảo: “Cô không phải lo cho tôi đâu. Cô phải chăm cho thằng bé mạnh khỏe”. Cô Thảo nghe ông Kình nhắc tới thằng bé với vẻ quan tâm thì cũng bớt tủi thân. Cô mạnh dạn nói: “Anh về nhà đi”. Ông Kình im lặng không trả lời, ông quay lại tiệm giặt là cắm cúi làm việc nhưng mắt thi thoảng lại nhìn vào làng.

*

Mẹ tôi bảo: “Chú Kình về trong làng ở rồi. Người đâu mà gan dữ. Mãi bốn năm năm mới chịu quay về nhà”. Thực ra lý do để ông Kình về làng ở bắt nguồn từ hôm cô Thảo phải đi cấp cứu. Cô bị viêm ruột thừa cấp. Khi người trong làng khiêng võng cáng cô Thảo đi bệnh viện có người đảo vào tiệm giặt là báo với ông Kình. Lúc đó ông Kình vừa mở cửa tiệm, nghe người ta báo thế ông Kình chẳng nói chẳng rằng, ông bước ra cửa hạ tấm phên che xuống. Ông Kình chống nạng cạch cạch đi theo.

Những ngày cô Thảo nằm viện là những ngày ông Kình luôn ở bên. Thực tình nếu không có ông thì cũng chẳng có ai. Thằng Bất thì bắt đầu đi học lớp 1, vả lại nó còn quá trẻ con, lo cho nó ăn nó ngủ đã mệt rồi hy vọng gì vào nó chăm mẹ. Người làng tốt đến mấy thì cũng hỏi thăm qua quýt chứ làm gì có ai bỏ việc nhà mình đi chăm người hàng xóm.

Ông Kình ở viện suốt. Hôm cô Thảo được về nhà cũng là hôm ông Kình dọn về làng. Ông chỉ dọn đồ đạc cá nhân thôi chứ công việc là quần áo ông vẫn giữ. Sáng sáng người ta thấy ông Kình đi từ nhà ra tiệm. Chiều tối lại thấy ông trở về nhà. Nghe hàng xóm nói: “Thằng Bất ban đầu sợ lắm. Nó không dám ho he câu gì. Ông Kình đi làm rồi nó mới bưng bát cơm nguội mà cô Thảo đưa cho rồi lụi cụi đi học”.

Ông Kình một tối về nhà, ông gọi thằng Bất lại gần. Thằng Bất định trốn nhưng cô Thảo nắm tay nó. Cô dắt nó lại bên ông Kình. Thằng bé tò mò nhìn ông Kình cởi chiếc áo dài tay ra rồi ông lần lần tháo sợi dây vải quấn quanh người để kẹp chiếc nạng. Cô Thảo nhắc thằng Bất:  “Con lại giúp … ông ấy…l ại giúp… giúp bố con tháo dây ra đi”. Thằng Bất miễn cưỡng lại gần, nó sợ sệt đưa tay tháo dây giúp. Ông Kình nhìn nó mỉm cười. Có lẽ nụ cười thân thiện đã giúp thằng Bất gần gũi, nó cũng cười khi cùng ông Kình tháo xong sợi dây. Ông Kình ngồi xuống ghế, chiếc nạng gỗ để bên cạnh. Thằng Bất mon men rờ rờ chiếc nạng.

Có ông Kình về nhà nên căn nhà cũng ấm áp thêm, cô Thảo sau trận mổ ruột thừa thì sức khỏe cũng yếu đi. Dường như bao nhiêu sức lực những năm vừa qua cô đã dồn hết, gắng gượng hết.

Mẹ tôi bảo: “Thôi, cũng là cái kết có hậu. Chuyện đời như thoáng chốc, vết thương thể xác rồi cũng lành. Vết thương lòng rồi cũng nguôi ngoai. Cái chính là họ là một gia đình”.

*

Đám ma ông Kình khá trang trọng. Đội lễ cựu chiến binh phường rất chu đáo. Những người lính cũ mặc lễ phục trắng, mũ kê pi trắng, phù hiệu cầu vai đỏ chót đứng túc trực hai bên quan tài. Không có tiếng kèn ò í e như các đám ma khác. Thay vào đó là tiếng kèn đồng tấu lên những bài hành khúc quân đội. Cô Thảo sức yếu nên ngồi trên ghế kê cạnh chiếc bàn độc. Trên bàn độc ngoài tấm ảnh ông Kình trịnh trọng trong bộ quần áo bộ đội (nhờ tay thợ ảnh chỉnh sửa thêm vào) cạnh đó có ba chiếc bàn là xếp theo thế chân kiềng. Khói hương tỏa lên nghi ngút. Cô Thảo ngồi lặng yên, hai tay cô bưng tấm ảnh chụp hai người hôm làm lễ thượng thọ đã được lồng vào chiếc khung gỗ, cô như ôm sát bức ảnh vui đó vào sát bụng mình. Vợ chồng thằng Bất trong bộ áo xô đúng với phong tục cùng hai đứa con một trai một gái sắp hàng đứng liền bên cô Thảo. Có điều là thằng Bất không chống gậy tre, nó chống chiếc nạng gỗ của ông Kình, chiếc nạng đó ông Kình rửa lau sạch sẽ và cất đi từ khi ông được lắp chân giả.

Ông Kình được di ra đồng, thằng Bất đi sau quan tài. Bên tai tôi lặng lẽ vang lên tiếng cạch cạch của chiếc nạng gỗ. Hình như là ông Kình vẫn còn đó, ông đang từ nhà đi tới tiệm giặt là của mình.

Ông Kình nhận những bộ quần áo đã giặt sạch mà mọi người đem đến. Ông mắc từng chiếc vào mắc áo do ông tự chế bằng những đoạn gỗ tròn cỡ ngón tay người lớn được vót vuốt nhẵn nhụi rồi treo lên cây sào tre bắc ngang gian nhà, hướng ra ngoài đường, đối diện với chiếc bàn “làm việc” của ông. Chiếc bàn ấy vốn là một tấm phản cũ không biết ông Kình mượn của ai. Tấm phản dài vừa vặn với chiều ngang của ô cửa lùa và nó được đặt lên bốn chiếc thùng phuy đựng xăng loại 100 lít. Bốn chiếc thùng phuy này đã han đáy nên người ta bỏ đi, ông Kình cho nhồi chặt đất và biến nó thành bốn chân bàn vững chãi. Mặt bàn được chải phẳng phiu nhờ chiếc chăn dạ đã cũ màu cứt ngựa, nghe ông Kình nói thì nó là của một tay lính Nhật nào đó, người lính Nhật này trước khi về nước đầu năm 1946 đã bán nó cho người trong phố.

Ông Kình mắc những chiếc quần áo lên sào xong thì chậm rãi cầm chiếc ca Hải Phòng tráng men đựng đầy nước trắng, ông chiêu ngụm nước. Ngậm chặt ngụm nước đó ông Kình đi những bước đi ngang từ trái qua phải dẫy quần áo. Chiếc nạng gỗ khẽ kêu cạch cạch mỗi khi ông di chuyển. Người đứng ngoài nhìn vào sẽ chẳng nhận ra là ông dùng nạng, vẻ nhẹ nhàng trong di chuyển khiến ai cũng nghĩ là ông Kình còn đủ hai chân nguyên vẹn.

Ngụm nước trong mồm ông Kình được phun ra thành những hạt bụi nước trông như một đám bụi sương. Ông Kình phun nước đều và khéo vào những bộ quần áo định là hệt như một trò chơi con trẻ vậy. Tôi hỏi: “Sao ông lại phải phun nước vào quần áo?”. Ông Kình chưa trả lời ngay, ông đi ngang hàng quần áo phun đến cái cuối cùng thì trong mồm cũng hết nước, bấy giờ ông Kình mới quay lại nhìn tôi và giải thích: “Quần áo khi phơi nắng sẽ khô. Đem là ngay với bàn là có nhiệt độ cao sẽ gây giòn gãy sợi vải hoặc làm cho màu sắc thay đổi. Phun nước sẽ làm mềm sợi vải, sẽ tránh được những điều như chú vừa nói”.

Sau khâu phun nước thì ông Kình mới là, rồi ông giảng giải thêm “Khi là bao giờ cũng phải lộn trái quần áo ra, là mặt trái trước, sau đó lại lộn phải để là hoàn chỉnh. Nhớ là sao cho mấy đường chỉ may được giãn ra vì chỉ may với sợi vải không đồng nhau nếu không là cho giãn ra thì đường chỉ may co rúm. Đúng là nghề là quần áo đâu có dễ, làm gì cũng phải có kinh nghiệm, cũng phải có ý. Làm vội làm nhanh làm ẩu là bị khách bắt đền ngay. Nghe ông Kình giảng giải như vậy tôi thấy cũng có lý.

Nguồn Văn nghệ số 21/2021

 

 

Tin liên quan

Gương sáng vĩ nhân

Dũng khí và Tình người của dân tộc ta nảy sinh phát triển từ ngàn năm chống ách thống trị của phong ...

Cất lên từ ruột sóng

...Cất lên từ ruột sóng là trang thơ viết về vùng biển Sầm Sơn, tác giả đều là những nhà thơ sinh ra ...

Giếng làng, ai nhớ ai quên?

Tôi nhớ hồi chiến tranh, khi sơ tán ra các tỉnh phía Bắc, sống ở một ngôi làng giữa vùng đồng bằng B ...

Cảnh quan và tâm tưởng trong thơ mới nhìn từ thực thể biển

Văn học Việt Nam 1930-1945 nói chung và thơ ca nói riêng hình thành, vận động và phát triển trên nền ...

Cao giọng khen, chê

Anh bạn tôi là nhà thơ hay cao giọng luận đàm, hay tuyên ngôn những lời to tát. Gặp đồng nghiệp anh ...

Đôi cọp xám chiến khu Đ

Chiến thắng vang dội của trận La Ngà, ngày Một tháng Ba năm Bốn bảy, một chi đội Cộng hòa vệ binh ph ...

Nhật ký Quảng Trị 1972

Trong gần suốt năm 1972 tôi là lính thông tin của đại đội 4, trung đoàn 132 thuộc binh chủng thông t ...

Ra trận

Vội lắm! Anh ta chỉ kịp quăng người lên xe, nhìn tôi cười thân thiện. Anh nói: “Kiếm chút đầu thừa đ ...

Tháng Tư, hoa loa kèn…

Tôi sinh ra và lớn lên trong một ngôi làng miền Trung gió Lào cát trắng. Tuổi thơ chúng tôi có hai n ...

Trang thơ Nguyễn Thị Thu Hằng

Chùm thơ của Nguyễn Thị Thu Hằng ...

Bên sông, thành phố trẻ

Tôi chào đời bên hữu ngạn dòng Lam. Hơn 40 năm trong quân ngũ, dù ra Bắc hay vào Nam, đi tới đâu tôi ...

Cánh chim mùa xuân

KUNIKIDA DOPPO (1871-1908) sinh ra ở Choshi tỉnh Chiba. Tên thật là Tetsuo. Trong khi đang học tại t ...