November 27, 2022, 10:51 pm

Điện ảnh Việt Nam, cơ hội vàng đã bị bỏ lỡ ra sao?

Từ một nền điện ảnh là công cụ tuyên truyền, giáo dục của Đảng và Nhà nước, bước qua cơ chế thị trường, chúng ta đã tự nguyện chấp nhận những thuộc tính hàng hóa của sản phẩm phim ảnh; đã coi trọng hơn tính chất giải trí trong quá trình chuyển tải nội dung phim.

 

Cảnh trong phim " Những người viết huyền thoại"

Liên hoan phim lần thứ 10 ở Hải Phòng đầu năm 1990 đã trao Bông Sen Vàng cho phim Vị đắng Tình yêu của cố đạo diễn Nguyễn Xuân Hoàng. Đây là một phim thể hiện rõ yêu cầu hút khách tới rạp. Câu chuyện tình yêu tay ba có phần cũ, tầm tư tưởng và thẩm mỹ cũng không có gì nổi trội. Bù lại, diễn viên là những gương mặt đang “hot” vào thời ấy là Lê Công Tuấn Anh, Lê Tuấn Anh, Thủy Tiên...

Từ đó trở về sau, các Liên hoan phim Bông Sen đều dành cho phim thương mại, phim giải trí những sự biểu dương, khích lệ xứng đáng: Tại Liên hoan phim lần thứ 17, Hotboy nổi loạn được sánh vai cùng Mùi cỏ cháy; Liên hoan phim lần thứ 18, Bí mật thảm đỏ đồng giải với Những người viết huyền thoại...

Tôi làm công tác giới thiệu, phê bình phim, nhưng đồng thời là giảng viên ở cả hai trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội và Đại học Sân khấu – Điện ảnh Tp Hồ Chí Minh. Mỗi khóa học, khi cần phải giới thiệu gương mặt đích thực của nền điện ảnh dân tộc, tôi vẫn thường chọn những bộ phim thuộc dòng chính thống để chiếu cho các em sinh viên xem. Các em xuýt xoa ngạc nhiên trước những bộ phim ấy, hệt như đang xem những bộ phim của các cường quốc điện ảnh thế giới. Và luôn đặt câu hỏi: “Vì sao đã từng có những bộ phim sâu sắc, kỹ càng, bộc lộ tài năng của những người làm phim như vậy, mà bây giờ phim ảnh nước mình lại “đổ đốn” đến thế?

Hãy nhớ lại mảng phim truyện của thập niên 1990.

Có thể nói, công việc làm ra những bộ phim truyện đã tích tụ được kinh nghiệm từ những năm chiến tranh, đặc biệt sau tháng Tư năm 1975, kinh nghiệm ấy càng dồi dào, phong phú hơn khi các nhà điện ảnh của chúng ta có điều kiện tiếp xúc với điện ảnh của các nước Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Hồng Kông, Đài Loan... Vào thời điểm này, công việc làm phim được bổ sung thêm sức thanh xuân, khát vọng sục sôi và trình độ tay nghề của cả một lớp những đạo diễn, quay phim đào tạo cơ bản, dài ngày ở trong nước hay ở nước ngoài. Nhưng yếu tố quan trọng nhất, cơ bản nhất đưa tới những chuyển đổi mới mẻ trong cảm xúc, trong cung cách tìm tòi ngôn ngữ biểu đạt, trong việc thể hiện hiện thực chính là ngọn gió đổi mới, dám nhìn thẳng vào sự thật được bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ V năm 1986. Chính điều này đã tạo nên những cởi mở, dân chủ, thông thoáng hơn ở cách nhìn nhận, đánh giá trong khâu duyệt kịch bản, duyệt phim; cả ở những khâu khác thuộc thẩm quyền của các cấp cao hơn.

Có lẽ cũng là lần đầu tiên, phim về đề tài chiến tranh được thể hiện cả Bi và Tráng; cả chiến công cùng những mất mát hy sinh. Con người trong các bộ phim ấy đã bắt đầu có cuộc sống riêng, mang chất “người” rõ rệt. Có thể kể ra đây những Đời cát, Bến không chồng, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành... Làn gió dân chủ, cởi mở, sự thông thoáng càng thấy rõ thành quả trong mảng phim phản ánh hiện thực đời thường. Khoảng một, hai chục năm trước, nhân vật chính trên màn ảnh khó có thể là anh lái xe ngang tàng, ương ngạnh mà ẩn sâu bên trong một tấm lòng nhân ái như trong phim Canh bạc, hoặc là những gã lâm tặc và những cô gái “nửa đời nửa đoạn” như trong phim Rừng đen... Nhiều bộ phim truyện ở thời điểm này đã nhìn thẳng vào những vấn đề xã hội gay gắt, nóng bỏng; phanh phui, mổ xẻ để gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh xã hội. Giai đoạn này cũng đã khẳng định tài năng, sức sáng tạo, những tìm tòi, độ chín của một loạt các nhà quay phim như Nguyễn Hữu Tuấn, Vũ Quốc Tuấn, Nguyễn Đức Việt, Lý Thái Dũng... của các anh chị, các em diễn viên, các nhà thiết kế điện ảnh, các nhà soạn nhạc. Nhiều đạo diễn qua những bộ phim của mình đã và đang bộc lộ một phong cách riêng: Vương Đức với phong cách phim tài liệu trong phim truyện. Sự dịu dàng, êm ái, đầy nữ tính đã định hình trong các bộ phim Thung lũng hoang vắng, Tâm hồn mẹ, Lạc lối của nữ đạo diễn Phạm Nhuệ Giang. Với Ngọn đèn trong mơ, Hoa của trời, Ký ức Điện Biên đặc biệt là Vua bãi rác đạo diễn Đỗ Minh Tuấn đang muốn tìm tới phương pháp khái quát, trìu tượng hóa khi thể hiện hiện thực quanh ta...

Phim truyện của những năm 1990 vẫn nối tiếp được những điểm mạnh trong truyền thống của nền Điện ảnh Dân tộc Cách mạng (bám sát hiện thực, coi trọng tính nội dung, tính thẩm mỹ, coi trọng đối tượng phục vụ...) mà ngày hiện rõ diện mạo riêng của nền điện ảnh Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới, nếu chiếu cạnh phim của Thái lan, Philipines, Singapore..

Đánh đùng, loạt phim không cần đạt tới mục đích gì, không cần chuyển tải một thông tin gì, không cần tới học vấn điện ảnh và trình độ tay nghề bỗng nhiên lấn át, giành hết thị phần điện ảnh và người xem nhẩy lên vũ đài.

Trên báo chí bỗng xuất hiện dai dẳng một định kiến: Xếp tất tật những bộ phim thuộc dòng chính thống này vào một giuộc là phim cúng cụ, làm ra tốn tiền của nhà nước, không ai thèm xem và chỉ để cất vào kho (?!)

Mà nghĩ lại, cũng không phải là... “đánh đùng” đâu.

Nền Điện ảnh nước nhà mới chỉ bục ra một vụ “thất lạc” vốn liếng 40-50 tỷ, nhưng thực chất những thứ virus làm ruỗng mục, phá hủy dần dần nền điện ảnh dân tộc cũng đã nẩy nòi ngay khi nền kinh tế chuyển đổi qua cơ chế thị trường... Chắc nhiều người chúng ta chưa quên việc dùng băng dĩa nhập rẻ, biến màn ảnh tivi thay cho rạp chiếu ở phía Nam cuối những năm 1980 đầu những năm 1990. Chắc nhiều người cũng không lạ gì trò bỏ cả núi tiền mua thiết bị làm phim hiện đại, nhưng không lo đào tạo người xử dụng, cốt để hưởng tỷ lệ hoa hồng... và máy móc mua về phủ bạt nắm đó, nay đã thành đống sắt vụn. Rồi tới đận rộ lên phong trào “Người người làm phim, nhà nhà làm phim”. Việc xã hội hóa điện ảnh là một chủ trương đúng, nhưng cũng chính từ đây đã buông lỏng, đã bỏ rơi những yêu cầu về tư tưởng, thẩm mỹ của một nền điện ảnh chân chính; lấy lờ lãi là thước đo chính, coi khán giả “nhí” là thượng đế.

Nối tiếp với dòng phim “mì ăn liền”, một chủ trương thực dụng, tinh ma ra đời: Dùng phim truyền hình thay cho phim điện ảnh; rồi ban đầu phim truyền hình phải do cơ sở làm phim của truyền hình làm ra, sau “bán cái” cho những thứ gọi là Hãng phim, là Công ty tư nhân sản xuất phim... Đến lúc này thì gà đã xổng ra khỏi chuồng, khó mà còn giữ được kỷ cương, phép tắc...

Điều đáng nói, đáng kể trong hai, ba chục năm nền điện ảnh nước nhà sống cuộc sống du mục, khôn sống mống chết như thế, những khung sườn vẫn vận hành đều đều: Vẫn có Cục Điện ảnh, Hội Điện ảnh; vẫn thông qua và bổ sung thường xuyên cái gọi là “Luật Điện ảnh”, hàng năm vẫn đều đặn tổ chức các Liên hoan phim, các cuộc Hội thảo quanh những vấn đề cấp bách liên quan tới việc làm phim, vẫn có phạt vạ và cấm đoán... Chỉ duy có điều, không một ai, không một cấp quản lý nào dám trực diện, thẳng thắn trả lời câu hỏi này: Vậy nền Điện ảnh Cách mạng ra đời trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp, chống Mỹ, được gột dựng trong những năm tháng hòa bình sau Hiệp định Genève (1954) và Hiệp định Paris (1973) nay còn không hay đã biến thành hoài niệm?

Nguồn Văn nghệ số 31/2022

 

 


Có thể bạn quan tâm