Cộng sinh với nhân gian


 

Có thể nói, tập thơ Nhịp tim con chữ, với 58 bài thơ của nhà thơ Lý Hoài Xuân là một tập thơ trữ tình. Hay đúng hơn, gọi đây là một tập thơ tình cũng được, mặc dù tác giả đã đi qua tuổi trẻ. Ở những bài thơ thể tự do, nhịp ngắt câu khỏe. Nhịp tim theo cảm xúc, cảm hứng; nhịp chữ rung ngân theo. Nhịp ngắt này thể hiện rõ ở bài Nhịp tim con chữ. Cũng là đặc trưng nhịp ngắt ở nhiều bài khác. Trong tập thơ có đến 15 bài là thơ tình, tình yêu từ kỷ niệm được đánh thức, mỗi bài một góc độ hoặc đang trong giấy khắc đam mê, hoặc… Qua tình, tác giả gửi sự trải nghiệm thăng trầm về số phận đời người, về hạnh phúc tổ ấm gia đình.

Mãi còn trời trong giếng/ Như giếng trong đất sâu/ Không gian mãi lưu ảnh/ Chỗ ta ngồi bên nhau (Lưu ảnh)

Khổ thơ trên lẫy ra từ bài đầu tiên của tập thơ, lan tỏa cảm xúc mạch trữ tình rất Lý Hoài Xuân đến bạn đọc.

Tình yêu, cảm xúc thoáng qua, hay một khối tình trọn đời đều có vòi leo níu giữ làm nhịp tim bất chợt thảng thốt, con chữ tràn ra mặt giấy. Chất trẻ của cảm xúc Nhịp tim con chữ là thế mạnh hình thành nên ý, tứ ở mỗi bài thơ, tạo ra chuỗi điệu thức ngắt nhịp câu thơ, diễn đạt ngôn ngữ thơ ở mạch thơ trữ tình nói chung của toàn tập thơ. Sự lan tỏa từ hốc, huyệt thơ tình yêu dẫn dắt tác giả chuyển mạch sang thơ trữ tình, thơ tình yêu quê hương đất nước, thơ trữ tình công dân khá nhuần nhị; ẩn sợi dây duy lý của tác giả vốn là một luật sư tích lũy được nhiều trải nghiệm.

Ở bài thơ Về An Xá, Lý Hoài Xuân viết kính tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi Đại tướng còn sống, thuộc chất trữ tình công dân chân mộc, dung dị. Tình cảm được tỏ bày loang sóng hồn quê từ sự nghiệp vẻ vang, lừng lẫy chiến trận trải các cuộc kháng chiến trường kỳ giành độc lập thống nhất non sông. Tâm thế cảm xúc của bài thơ là tâm thế xúc động của một người lính, từng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh trở về; giấu trong lòng nước mắt khóc đồng đội, và cả những giọt nước mắt do di chứng chất độc đioxin ngấm dần vào xương cốt, của một thương binh chống Mỹ cứu nước… Cái chất chân mộc của người lính gợi nỗi gian lao của đất nước làm rơi nước mắt khi lặng vui với khổ kết và tứ của bài thơ: Từ đây tôi thêm hiểu rõ/ Nỗi lòng Đại tướng với dân/ Xin cảm tạ vành nôi nhỏ/Đã dâng đời một vĩ nhân.

Ở bài thơ Cõng bạn về quê, tác giả viết tặng đồng đội (liệt sĩ Nguyễn Hữu) với mạch thơ kể, tả chân, tựa thể ký bằng thơ, lay động, khắc tạc một chân dung liệt sĩ với một điểm huyệt nhức nhối: Mẹ không còn/Cha không còn/Ở đâu cũng được…gây cho người đọc sự xúc động, và càng xúc động hơn khi đọc: Nhưng người yêu mày/Còn cất giữ ảnh mày…/ Thôi thì cứ theo người yêu về quê/Tao bỏ mày vào ba lô/ Cõng đi tàu THỐNG NHẤT.

*

Ở trang phụ lục, tư liệu về tác giả cuối tập thơ, chúng ta được biết: Lý Hoài Xuân nhập ngũ đúng ngày thi tốt nghiệp phổ thông (22/5/1972); được huấn luyện cấp tốc chưa đầy một tháng thì gấp rút hành quân vào tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972. Năm 1975 anh lại tiếp tục tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh, giải phóng cao điểm 363 Tây Nam Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế; đánh, giải phóng Đà Nẵng; đánh, giải phóng Phan Ra; đánh, giải phóng Long Thành, Nhơn Trạch. Tại Nhơn Trạch, anh được kết nạp Đảng tại trận trước lúc vào giải phóng Sài Gòn. Anh đã tham gia trong đội hình Hải quân diễu bình ngày 15/5 mừng giải phóng miền Nam tại Sài Gòn. Đây là niềm hãnh diện và kỷ niệm sâu sắc, hiếm có của anh!

Lý Hoài Xuân từng là chiến sỹ thuộc quân của Sư đoàn 325. Nương theo ký ức, tác giải đã viết nên bài thơ Có một loài hoa trong đó có những câu: Dọc đường Hồ Chí Minh/ Có một loài hoa/ Thầm lặng nở bên vách đá/ Màu hoa đỏ như máu/ Dường như hoa hiểu được tiếng người/ Nhìn ta, muốn cùng tâm sự!/ Đồng đội hoa là ai?/ Ai còn?/Ai mất?/ Ai sống mà như chết?/… Nén hương ngậm ngùi Hang Tám Cô/ Chiếc lược, mảnh gương còn đó/ Con đường ngày trước tựa sợi chỉ/ Đồng đội hoa như những con kiến/ Men theo sợi chỉ đến khắp chiến trường/ Người về đích/ Người rớt dọc đường/ Người thành anh hùng/ Người liệt sĩ…/ Ơi hoa tri kỷ/ Ước chi/ Hoa hóa thành người/ Cùng ta đi trên con đường mới.

Qua sự trải nghiệm từ đời lính và theo học trên các giảng đường Đại học, Học viện cao cấp cũng như trải nghiệm qua nghề luật sư đã giúp anh cô nén, đúc rút nên tứ thơ với kết cấu khá chặt chẽ. Ở các câu thơ cuối mỗi bài thơ có ý nghĩa làm đế cho tứ thơ, bài thơ, khắc ấn tượng riêng về triết lý nhân sinh, gợi cảm sâu. Tôi thích những câu thơ như thế này trong tập thơ:

- Em đi tận cùng trăng ấy/ Sang ngày thêm hiểu thơ ta/ Ta đi tận cùng trăng ấy/ Mang về một giấc mơ hoa…

- Nơi em không trở lại/ Tím ngát trời hoàng hôn!

- Thương thế, những con chim vô hại/ Ra khỏi lòng còn sợ bẫy giăng!

- Đi hết đời/ Có ai không rơi gì không?

- Với Dó/ Vết thương là có ích!

- Ngày cũ mà mặt trời không cũ/ Tiếng chim luôn mới với ngày sau.

- Trước khi nhắm mắt/ Có người còn lo không nơi chôn cất!

- Mặc thời gian rụng rơi/ Tôi luôn là tôi/ Trên đôi chân của mình.

- Sông muôn đời thủy chung với đất/ Nhắc nhớ ta tình nghĩa cội nguồn…

Ở các bài Nỗi buồn trần thế, Gặp Nguyễn Du ở cửa biển Nhật Lệ, Cõi vĩnh hằng, Hang Tối, Tâm tình với sông Gianh, tác giả nhân cách hóa đối tượng khách thể, cảm xúc bằng giọng thơ độc thoại; mượn cảnh gửi lòng, triền sâu vào mạch nghĩ suy nhân thế, chạm chân tường lịch sử! Với Nguyễn Du, tác giả phác họa đôi nét chân dung tâm hồn và khẳng định: Ông buồn/Nỗi buồn thi nhân lớn hơn nỗi buồn ông Cai bạ/Có lẽ vì thương Thúy Kiều nên mắt ông rơi lệ/ Tố Như thật khó hiểu/ Để lại cho đời cả núi thơ mà không để lại bức chân dung nào!?

Vơi sông Gianh, Lý Hoài Xuân viết: Ơi dòng Gianh dòng Gianh/ Sao tôi cứ thương/Sông mấy nghìn năm tiếng gọi đò đêm vắng/ Sao tôi cứ thương/ Những đoàn xe đợi phà thức trắng!.../ Phải vì sông sâu nên cầu mới muộn tình?

Cứ thế, nhịp tim và con chữ của Lý Hoài Xuân đập song nhịp, cộng sinh với đời, với nhân gian. Hẳn tác giả khi đọc lại tập thơ vừa in xong, lòng vẫn đau đáu một hứa hẹn khám phá mới, sáng tạo mới ở những bài thơ chưa viết!

Nguồn Văn nghệ số 40/2019                                                                                                     

Tin liên quan

Trọn vẹn với môi sinh

​Nguyễn Thánh Ngã đã in 6 tập thơ, song “lòng chưa cạn” trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Tập thơ Gã thi ...

Nỗi đau chân thật thành mẩu trầm thơm

​Phạm Thị Kim Khánh lướt qua giai đoạn sung sức của thiếu nữ khi bước vào sang tác. Chị đắm say vào ...

Ba người đàn bà đi dưới mặt trời

Thanh Chung, Kim Oanh và Lâm Cúc vốn dĩ là ba người bạn thân và sống trên ba vùng đât khác biệt. Các ...

Tiếng Việt vỡ nát

Trên báo Văn nghệ số 34, ra ngày 24/8/2019, và trên báo điện tử ngày 22/08/2019 có bài Vọng ngoại – ...

“CẶP BÀI TRÙNG” NHÀ THƠ - DỊCH GIẢ

Vào đầu những năm 1960, vừa trở thành anh giáo dậy tiếng Nga tại trường Trung cấp Ngoại ngữ Mễ Trì, ...

VẬN DỤNG CÁC LÝ THUYẾT VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY TRONG PHÊ BÌNH, NGHIÊN CỨU TRUYỆN KIỀU

Tiếp nhận lí luận văn học phương Tây ở Việt Nam là một đề tài rộng lớn, cần nhiều cuộc trao đổi, nhi ...

Không nhà – một áng sử thi của người Mỹ bản địa thế hệ mới

Mới đầu, khi nghe tên cuốn sách, tôi nghĩ đến “Không gia đình” của Hector Malot mà tôi đã từng say s ...

Thèm vô cùng bóng mát khóm cây xanh

​Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn (1944-2015) là gương mặt không phải quá quen thuộc với công chúng thi ca cả ...

Thơ tình viết ở tuổi 80

Nhà thơ Mai Phương là một cộng tác viên thân thiết của báo Văn nghệ. Nhiều năm qua ông luôn là người ...

Điểm nhìn nhân văn về chiến tranh

​Mùi vị đau đớn, mất mát và nhiều thứ thiên về nỗi đau của chiến tranh xuyên suốt tập truyện ngắn nà ...

Dấu mốc mới trên một hành trình tiều thuyết

Tấn kịch ở Hạ Lỗi là tiểu thuyết thứ 6 trên hành trình tiểu thuyết của Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Thi ...

Đọc truyện ngắn Nguyễn Thị Mai Phương

Trong một cuộc "nhậu" giữa tôi với nhà văn Bảo Ninh và nhà thơ Trần Anh Thái, chả nhớ rượu ...