Cơn đau dĩ vãng


Thời tiết ngột ngạt trước trận gió đông chuyển mùa. Áp cao nén không khí quánh lại, ẩm ướt và bức bối. Buổi chiều nồm thiu, nhớt nhoét như đống lá gói bánh giò rấp vội góc quán vỉa hè. Mặt chiếc bàn nhựa dấp dính những đám bọt bia tràn. Chuyến tàu hỏa cuối ngày như một con sâu khoang lười biếng, ì ạch leo cầu đá Phùng Hưng, lúc khuất lúc hiện sau những tán bàng đỏ.

Minh họa của LÊ TRÍ DŨNG

Việt thờ ơ nhìn con sâu sắt nặng nề bò qua mái phố, im lặng nhấm nháp cốc bia hơi chờ bạn. Chẳng phải đợi lâu, hai chiếc xe ba bánh đã tấp lại bên kia đường. Các thanh nhôm hộp ngất ngưởng, thò dài ra phía sau xe tựa nòng sơn pháo. Tiếng kéo ga “pành pành” rít điên cuồng như họng đại liên trước khi máy tắt. Hai người đàn ông kỳ dị trong bộ đồ lính cũ nhàu nhĩ sải bước sang đường, kéo ghế ngồi.

Người đàn ông có bộ mặt cười là Bình. Rừng khộp Campuchia năm 1980. Tăng…ùng…phát B41 địch phục kích bắn gần. Tử thần bay sạt mặt. Hú hồn! Quả đạn chống tăng nặng hai ký rưỡi chỉ lệch sang phải chục phân nữa chắc hẳn đơn vị sẽ báo Bình mất tích. Tuy không trúng nhưng cánh đuôi trái hỏa tiễn cũng kịp xòe ra, rạch từ mép đến mang tai Bình một vệt chém sâu hoắm. Việt nhớ pho tượng Bayon bị đạn 12,7 ly xé rách miệng trên núi Oudong, thấy gương mặt tượng thần giống hệt Bình, vếch mép thiên thu một nụ cười vĩnh cửu. Việt vẫn đùa, bảo đáng nhẽ rạp xiếc nên thuê mày làm hề. Họ vừa đỡ công hóa trang vừa đỡ tốn nước tẩy rửa bởi mày lười tắm. Tắm nhiều thịt nó nhạt, Bình cười hề hề, mà suốt mùa hè mùa đông Hà Nội nước cứ ri rỉ chảy.

Người thứ hai là Ngọc, với chiếc kính đen độc nhãn tự tạo che một bên mắt hỏng. Mảnh trái M79 nổ trên bờ công sự đã lấy đi của Ngọc một con mắt. Còn hai con mắt khóc người một con. Còn hai con mắt một con khóc người. Lời một bài hát của nhạc sĩ họ Trịnh vận vào đời Ngọc theo đúng nghĩa đen. Ngọc giải ngũ, từ trại an dưỡng thương binh về xin cưới Hương, người bạn gái cùng lớp dấu yêu xưa khi nàng đã kịp góa chồng và có một con gái riêng. Chính Ngọc đã viết thư dứt tình với Hương sau những trận đánh khốc liệt đầu tiên trên chốt biên Tây Ninh. Ngọc sợ không về được thì đời nàng sẽ khổ. Trăm sự tại Ngọc. Nếu đong đếm được mất mát bằng nước mắt, như mụ béo chủ quán đang đong bia kia, đời Ngọc sẽ viên mãn gấp đôi người khác. Hồi tại ngũ nó là thằng mau nước mắt. Việt từng chứng kiến Ngọc mếu máo giữa cuộc hành quân, thương con gà rừng ngắc ngoải nằm trong ổ. Con gà mẹ bình thản tuẫn tiết, nằm ấp ổ trứng giữa rừng khộp đang rừng rực cháy đến, không chịu bỏ đàn con chưa nở. Nay Ngọc chỉ khóc được bằng một con mắt. Mà nói cho cùng mắt cũng chỉ là cơ quan tiết lệ, còn sự khổ đau nó nằm khóc sâu ở trong hồn.

Việt cúi xuống kéo lại chiếc tất tụt qua đoạn chân giả, cụng ly với hai thằng bạn nhậu. Ba người im lặng uống. Lính cùng đoàn vào biên giới Tây Nam, kẻ trước người sau lần lượt dính mảnh văng số phận. Đời thường mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre. Không chết là may, ngày về còn trông thấy nhau, dù đui què mẻ sứt cũng coi như lãi.

Chẳng có nghề ngỗng chuyên môn gì, như nhiều thương binh khác, Việt cùng hai đứa Bình, Ngọc tậu chiếc xe ba bánh chở hàng làm kế sinh nhai. Những chiếc xe “Hợp tác xã vận tải 27-7” bé nhỏ, luồn lách khắp nơi trong phố cũ. Chúng giống nhau đều cùng một khuôn: Dây dù buộc hàng chằng ngang dọc, võng lính mắc toòng teng, chiếc radio bán dẫn lủng lẳng treo trên giá khung luôn mở hết volume “Đời mình là một khúc quân hành”, và trên sườn xe đỏ rần khẩu hiệu “Thương binh tàn nhưng không phế”. Sự khiếm khuyết thường được ưu tiên trong những hoàn cảnh ngặt nghèo. Từ khi xe tải to chở loại hàng quá khổ cồng kềnh bị cấm vào trong phố, những chiếc xe ba bánh nhỏ với các anh tài thương binh càng lắm người nhờ. Chốt công an giao thông cũng ngó lơ đi lúc thấy xe họ quá tải diễu qua.

Chiều nay ba người ngồi đây theo lời hẹn của Lộc, thằng em lứa sau cùng đơn vị. Bình bồn chồn sốt ruột, chốc chốc lại liếc cái đồng hồ SK bốn đinh mặt lửa. Ngọc chột chăm chú lấy thìa vớt con ruồi say đang ngắc ngoải trong cốc bia, khoái trá phán điềm lộc lá sắp đến. Trong lúc chờ con ruồi khô cánh, Ngọc xuất bản miệng bài thơ đề ứng tác trước các thực khách nhẵn mặt. Thơ đề của Ngọc nổi tiếng linh nghiệm ở quán bia vỉa hè này.

Chiều nay quán nhậu cây bang

Cứu con ruồi chết đời đang có màu

Gió đề từ biển rất sâu

Thổi tai thày bói vài câu mượn hồn

Ba năm trấn thủ lưu đồn

Miếng da lừa vá càn khôn rách lòi.

Xong đoạn thơ, Ngọc vỗ đùi đánh đét quát giật giọng: “Bà chủ đâu, ghi tôi con 35. Bạch thủ con 35!”. Đám vô công rồi nghề ngồi chầu các bàn bên cạnh reo à lên, tơi tới đánh theo Ngọc.

Hết tuần bia thứ ba Lộc đến thật. Chiếc xe Camry 2.0 trờ tới êm ru, bộ quân phục phẳng phiu mới tinh cười xởi lởi bước xuống xe. Việt khó chịu nhìn đôi quân hàm, hỏi xóc: “Mới vượt cấp trung tá hả? Năm ngoái tao thấy vẫn đại úy mà”. Bông lúa viền quanh huy hiệu thương binh trên ngực Lộc lung lay, điệu cười xí xóa: “Đi kiếm cơm buộc phải thế, chứ em bao giờ cũng là thằng đệ binh nhất tụt tạt của các đại ca. Việc mới phải nhờ các đại ca đây.”.

Chẳng có gì mới, nó đến nhờ “đi chốt”, là đi giữ đất cho người ta như thằng Bình hay đùa cợt. Từ hồi đất đai lên sơn sốt, việc này ngày càng có nhiều người nhờ bọn họ. Một lô đất bên khu đô thị mới đang tranh chấp giữa chủ đầu tư với người mua. Do đóng tiền không đúng tiến độ hợp đồng, chủ đầu tư sang tên ngay cho người khác trả cao hơn. Bên mua hiện đang thuê một số thương binh kéo đến trụ sở dự án gây áp lực đòi lại. Bên dự án lại thuê Lộc đứng ra tổ chức lực lượng bảo vệ. Thời buổi đất lên giá vù vù, của một đống tiền.

- Trăm sự em nhờ bản lĩnh các huynh đài. Đây là 30 triệu tạm ứng đợt đầu. Đúng 7 giờ sáng mai các huynh có mặt tại lô đất đó nghe.

Nó đứng dậy, trịnh trọng đưa mỗi người một chiếc phong bì dày cộp, gọi chủ quán thanh toán trước cho cả nhóm rồi xin phép rút lui. Chiếc Camry bóng lộn nhanh chóng vút đi êm ru.

Cơn gió bấc đầu tiên thoảng về. Hơi lạnh mỏng tang không muốn ai nhìn thấy, lén chui qua ngõ nhỏ gầm cầu. Bóng tối xạc xào đu trĩu dưới tán bàng già, loang chiếm khoảng vỉa hè nhớp nháp. Trong ánh đèn đường vừa bật sáng, Việt thấy mặt thằng Bình tấy đỏ nụ cười đến tận mang tai. Nó khoái trá mở phong bì, le lưỡi nhấm nước bọt đếm cẩn thận từng tờ xanh polyme mới cáu cạnh.

Ngọc chột càng uống càng chìm. Thằng “nhà thơ đại đội” này vốn đa sầu đa cảm và nói lắm, bây giờ bỗng im như thóc. Việt vẫn thuộc lòng bài thơ chia tay Hương nó viết, ghi trong nhật ký những ngày đầu ra chốt Bến Cầu.

Kia núi Bà Đen.

Thảng thốt chiều hôm

con sáo báo tin

địch cày bung chốt.

Xách khẩu B41

tôi đi về núi Bà Đen.

Tôi lội đồng mưa

phập phồng loài gió lạ.

Bưu trạm Gò Dầu hạ

Lay lắt đáy bòng

chiếc phong bì rỗng không

Ghi tháu đôi dòng

giục Hương đi lấy chồng

Ngày mai lại qua sông

ơi Vàm Cỏ đông

bám càng chuyến xe lam

lắc lư lên chốt.

Mai vào Chiphu

phụt tiễn tình yêu

vài trái B41.

Bài thơ dứt tình độc địa nhát gừng, chẳng giống các bài thơ in trên báo nhưng sao nhớ lạ. Những gì gắn với cuộc đời riêng thằng lính, có cả số phận mình trong đó thì người ta nhớ lâu. Bây giờ dẫu không còn xe lam lên chốt thì vẫn còn xe ba bánh kiếm ăn lăn trên các nẻo đường. Những cái chốt lần hồi cơm áo gạo tiền đắp đổi mãi không xong.

Việt đút chiếc phong bì vào trong túi, gọi to chủ quán tiếp thêm tuần bia, muốn xóa cái cảm giác ngại ngùng trước mặt các bạn đồng đội. Ngày thường, mấy anh em trong nhóm vẫn chia sẻ, hỗ trợ nhau vô tư những lúc khó khăn. Hôm nay nhận phong bì của Lộc, một thằng “Quân hàm dỏm, thương binh chạy” như Việt vẫn chửi, thấy đắng cay cuộc đời dồn ngập hết trong hồn. Đánh qua đường sắt Oudong, đoàn lính mới của nó mới bổ sung vào. Bị thương cùng trận với Việt hồi chiến dịch Amleang. Khi trái cối 82 ly chớp nổ, Việt hoa mắt ngã xuống, vẫn còn kịp nghe nó hớn hở la lớn phía sau: “Trúng mánh mẹ ơi…!”

Dính mảnh cối bé bằng hột đậu vào phần mềm bắp chân, loại khinh thương cỡ miếng dán Urgo to bây giờ là đủ. Nó la ồi ồi như cha chết, tự băng chồng cả mấy cuộn băng cá nhân như sắp phải cưa giò. Anh Thẩm đại đội trưởng động viên, bảo vết thương mày nhẹ, rán ở lại chia lửa với anh em. Nó vâng vâng dạ dạ, nhưng bằng cách nào đó, nó lủi đi, cà nhắc bám được theo võng trung đội vận tải cáng Việt về tuyến sau. Ở phẫu trung đoàn chưa đầy tuần, vết thương nó đã kín miệng. Quân y cho ra viện, dành chỗ cho các thương binh mới. Nó cậy pin thối, xà bông đắp vào cho loét ra, lại rên rỉ khai thêm em bị sức ép, đầu óc vẫn váng vất chóng mặt lắm bác sĩ ơi.

Chủ nhiệm quân y trỏ Việt đang băng kín, nhẹ nhàng bảo: Cậu này đi trước hứng hết mảnh cho em. Trái cối nổ cách em cả chục mét thì sức ép gì? Hay em bị sức ép súng ta? Em xài loại hỏa lực bộ binh nào? Nó cuống lên, bảo em xài AK, bị sức ép AK. Cả trạm phẫu cười nôn ruột. Từ đó, mọi người đều gọi nó là thằng “Sức ép AK”. Ra viện trước Việt, nó không về đơn vị, biến mất tăm không trở lại. Nghe nói nó chuồn ra Bắc, nhà nó gồng, chạy cho nó về một đơn vị thu dung ở hậu phương.

Chuyện cũ chiến trận bỏ qua. Đánh nhau rã rời, trời kêu ai nấy dạ, coi như thằng ma lanh có số may mắn. Nhưng Việt ghét cái tính khoe khoang, hay nổ một tấc đến giời của nó. Những lần hội họp cựu chiến binh đơn vị đầu tiên, nó còn không dám bén mảng. Mấy kỳ gần đây bắt đầu lân la đứng lên tài trợ, phát biểu hùng hồn hơn đài, trong khi mấy đứa chí cốt, đánh nhau chết bỏ lại ngậm mồm chẳng biết nói gì. Những thằng lì lợm chiến trận về đời thường lại chẳng giỏi giang kiếm tiền bằng mấy anh láu cá, thậm chí quỹ hội thường niên có khi còn xin khất.

Ghét thói ba hoa, đã mấy lần Việt bảo thẳng mặt Lộc: Thích quân phục sao không hàm binh nhất cũ mà đeo. Đeo sĩ quan dỏm cho oai với ai ngoài xã hội kệ mày. Đừng có đeo đi họp hội trước mặt bọn tao. Ngứa mắt lắm! Nó vẫn hì hì cười nhăn nhở, bảo anh có chửi em cứ chửi, nhưng em vẫn là thằng cùng đơn vị với các anh, trót dính vào đời các anh rồi. Các anh có huân huy chương đủ loại đeo, thì cứ coi em như cái nốt hắc lào đeo nốt vào cái bẹn đời thằng lính vậy. Lính phải có lác, chẳng bỏ em được đâu!

Việt không thích những bộ lễ phục, thấy nó cứng đờ gò bó như chẳng phải dành để cho mình. Lính trận không cần lễ phục. Chiều trước lúc ra đây theo hẹn, thấy ông loay hoay xỏ bít tất cho chiếc chân gỗ, thằng cháu ngoại bi bô: “Chân gỗ không biết lạnh, ông đi tất làm gì”, thì Việt cũng có cảm giác tủi thân giống như lúc cầm cái phong bì này. Khoản trợ cấp thương binh may đủ đóng tiền điện với mua bình gas hàng tháng là vừa xoẳn, mà trên đời còn bao nhiêu thứ phải tiêu tiền. Chiếc xe ba bánh kia đã nuôi cả gia đình, nuôi mẹ con mày trong những ngày khốn khó đó con yêu ơi! Việt ôm thằng bé vào lòng. Rồi lớn lên con sẽ hiểu. Có những vết thương, những nỗi đau phải biết che đi để vượt lên sống bình thường. Không biết các ông chủ dự án ngày mai có gọi vụng đám mình là tụi “chân gỗ”, như đã có lần Việt nghe thoáng có ai ở đâu đó từng đã gọi.

Tợp một hơi hết cốc bia, Việt cúi xuống kéo lại bít-tất bên chiếc chân giả theo thói quen, dù chiếc bít tất màu xanh ô liu vẫn nghiêm ngắn ôm tròn chiếc chân vô cảm. Buổi chiều ở quân y viện tiền phương, khi mở mắt tỉnh lại, thấy người y tá gói một chiếc cẳng nát đưa ra khỏi lán mổ. Nhìn xuống đùm băng trắng toát, không thấy chân đâu, Việt đã thảng thốt gào lên đau đớn: “Em lạy anh! Trả lại chân cho em. Ối anh ơi…!”. Ở đây có nhiều những cái chân bỏ đi như thế, nào biết chân ai? Nước mắt Việt ứa ra, nhìn theo một phần thân thể con người cùng anh y công đi ra hố chôn bệnh phẩm. Chiếc chân cha sinh mẹ dưỡng, lẫm chẫm tuổi ấu thơ trong bức ảnh vẫn treo trên tường, giờ nằm lại trong một cánh rừng khộp vô danh xứ người. Đêm đêm, tiếng súng vệ binh vẫn đì đoàng nổ ngoài trảng tranh Tà Chét, xua lũ chó rừng, kỳ đà lẻn vào đào bới kiếm ăn ở các hố chôn chi cắt lọc.

Hồi mới từ trại an dưỡng về nhà, trong những giấc mơ, Việt vẫn thấy mình còn đủ cả hai chân. Bàn chân đạp pê-đan trống bass ban nhạc trường cũ vẫn đang giần giật giữ nhịp. Lại có lúc thấy nóng rực chỗ bàn chân vô hình ấy, như đang chạy trên vỉa hè nắng hun những chiều đá bóng. Nửa đêm giật mình choàng dậy, cúi nhìn trân trân xuống khoảng chăn lép, lại thấy hẫng hụt nhớ cái chân xưa. Cái chân mất có chữ “Thương Mẹ” ôm tròn một trái tim, tụi bạn quân trường đốt muội quai dép xăm cho. Việt chưa quen với bộ vó thửa vô cảm. Hình như người ta hay để ý chăm chút đến cái phần đã chết, đã mất đi hơn cái phần đang tồn tại. Cái chân vô hình vẫn đau dù người ta đã chôn nó cách đây cả ngàn cây số. Bác sĩ quân y giải thích đó là hội chứng “đau chi ma”, nỗi đớn đau từ những chi đã bị cắt bỏ, được ghi rõ ràng trong y văn thế giới. Cơn đau có thể có nguồn gốc từ tủy sống và não bộ. Các phần của não, nơi đã từng kết nối với các dây thần kinh của chi đã cắt cụt vẫn phản ứng nên thương binh vẫn cảm thấy đau, một nỗi đau dĩ vãng mà trí nhớ vẫn còn lưu giữ.

Đầu mỏm chân cụt ngứa ran và lại bắt đầu nhức nhối. Mỗi lần xuất hiện cơn đau, không cần nghe đài báo thời tiết, Việt biết sắp trở trời. Mà đang trở trời thật. Bầu sương mịt mờ nồm ẩm trên phố ban chiều đã biến thành những giọt mưa rơi mỗi lúc một mau. Màn mưa kéo sụp xuống thấp những mái hiên hiu hắt. Cây cầu đá cũ xám mờ, buốt giá trong trận bấc cường đang ào ào kéo về.

Bình uống chừng tới độ, khoái trá dằn mạnh cốc bia cạn lên mặt bàn:

- Anh em ta đã đi giữ đất cho Tổ quốc, giờ lại nhận nhiệm vụ đi giữ đất cho các nhân dân giàu có. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng. Ha ha ha...

Ngọc chột say la đà, bắt đầu lè nhè méo tiếng:

- Kẻ thù nào hả? Anh em cả đấy! Không biết ngày mai đụng độ có gặp thằng nào cùng đơn vị mình bên phe kia không?

Từ đang là đồng đội sinh tử, giờ lại phân đôi chiến tuyến chỉ vì miếng cơm manh áo. Gió lạnh thổi buốt hồn. Việt sởn gai ốc ngoảnh sang, thấy Bình vẫn thờ ơ nhìn ra ngoài phố như không có chuyện gì xảy ra. Trong mắt đám khách quen ngồi đây, Ngọc chiều nào chẳng say như chiều nào. Còn với Bình, chẳng có gì quan trọng và thiết thực hơn việc kiếm đủ tiền nuôi hai thằng con lộc ngộc đang học đại học.

- Đau lắm nhục lắm bây ơi...! Còn ngồi đấy mà cười à? Đ... mẹ thằng sức ép AK!

Ngọc chột bỗng lảo đảo đứng dậy, rút phắt cái phong bì trong túi ném thẳng ra ngoài đường. Chiếc phong bì vỡ toang. Những tờ giấy polyme mệnh giá 500 ngàn bay tung trời trong mưa gió. Chủ quán hốt hoảng, quát vội đám nhân viên bưng bê chạy ra nhặt lại tiền cho ông thần say khách ruột.

Bình vẫn thản nhiên toác mồm nụ cười vĩnh cửu, đếm cẩn thận gói tiền ướt đẫm chúng vừa gom lại cho Ngọc chột, đút vào túi mình, dặn Việt:

- Giờ tao chạy xe của nó, đưa thằng say về cho con Hương. Mày ở đây trông hàng chờ tao. Tí nữa mình cùng về.

Hai cái bóng kỳ dị liêu xiêu dìu nhau ra khỏi quán. Việt tợp cạn cốc bia, vô thức cúi xuống kéo bít tất cho chiếc chân giả. Đoạn chân ma chiều nay vẫn nhức nhối cơn đau dĩ vãng.

Nguồn Văn nghệ số 22/2021

Tin liên quan

Vũ Quang - mùa Trà my vàng!

Vũ Quang ôm trọn hết thảy lưu vực Ngàn Trươi, con sông từ thủa bắt đầu được thai nghén trong lòng mẹ ...

Về nơi Bác đã sinh ra

...Bác là người đã dành muôn vàn tình yêu thương cho mọi tầng lớp nhân dân, cả cuộc đời phấn đấu vì ...

Gương sáng vĩ nhân

Dũng khí và Tình người của dân tộc ta nảy sinh phát triển từ ngàn năm chống ách thống trị của phong ...

Cất lên từ ruột sóng

...Cất lên từ ruột sóng là trang thơ viết về vùng biển Sầm Sơn, tác giả đều là những nhà thơ sinh ra ...

Giếng làng, ai nhớ ai quên?

Tôi nhớ hồi chiến tranh, khi sơ tán ra các tỉnh phía Bắc, sống ở một ngôi làng giữa vùng đồng bằng B ...

Cảnh quan và tâm tưởng trong thơ mới nhìn từ thực thể biển

Văn học Việt Nam 1930-1945 nói chung và thơ ca nói riêng hình thành, vận động và phát triển trên nền ...

Cao giọng khen, chê

Anh bạn tôi là nhà thơ hay cao giọng luận đàm, hay tuyên ngôn những lời to tát. Gặp đồng nghiệp anh ...

Đôi cọp xám chiến khu Đ

Chiến thắng vang dội của trận La Ngà, ngày Một tháng Ba năm Bốn bảy, một chi đội Cộng hòa vệ binh ph ...

Nhật ký Quảng Trị 1972

Trong gần suốt năm 1972 tôi là lính thông tin của đại đội 4, trung đoàn 132 thuộc binh chủng thông t ...

Ra trận

Vội lắm! Anh ta chỉ kịp quăng người lên xe, nhìn tôi cười thân thiện. Anh nói: “Kiếm chút đầu thừa đ ...

Tháng Tư, hoa loa kèn…

Tôi sinh ra và lớn lên trong một ngôi làng miền Trung gió Lào cát trắng. Tuổi thơ chúng tôi có hai n ...

Trang thơ Nguyễn Thị Thu Hằng

Chùm thơ của Nguyễn Thị Thu Hằng ...