Chuyện làng Còi


Đoạn sông Nguồn đoạn chảy qua làng Còi lưu lượng lớn gấp đôi nhờ hợp lưu với sông Vân. Vào mùa mưa lũ, nó chẳng khác một hung thần lao thẳng vào hông làng, tạo nên cái vụng Thủy Thần sâu thăm thẳm. Mỗi năm vài ba mạng người xấu số bị nó nuốt chửng. Mỗi lần nghe tin dữ, bà tôi lại ngồi bần thần hướng ra nẻo bờ sông, nhắm mắt rì rầm tụng niệm: Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật…

Lớn hơn một chút, bọn chúng tôi ngỗ nghịch thách nhau: Đứa nào dám bơi qua vụng Thủy Thần, sẽ được tôn làm đại ca. Tất cả đều lắc đầu. Đến chú Mới có tài lặn ngụp như con rái cá cũng lè lưỡi cảnh cáo: Đừng dại dột thế!

Minh họa của LÊ TRÍ DŨNG

Chả ai biết tung tích chú Mới ở đâu. Nghe bà nội kể: Thuở tôi chưa ra đời, cơn bão Kỷ Tỵ năm đó lớn chưa từng thấy đổ bộ lúc nửa đêm. Sáng hôm sau, ông nội tôi đội mưa chạy ra bờ sông. Lạy Thánh mớ bái, ngôi miếu còn nguyên nhưng một người dúm dó, run cầm cập đang nằm co quắp. Người ấy xưng tên là Mới, làm thuê trên con thuyền buôn bị bão đánh đắm giữa ngã ba Độc Bộ đêm qua. Ông tôi mở cửa miếu, cho anh ta vào trú rét. Lại sai người tức tốc mang đến một bộ quần áo với một liễn cơm nóng, giục ăn đi, mọi sự tính sau. Từ đấy, chú Mới xin làng cho ở lại trông coi nhang khói ngôi miếu Thủy Thần.

Người làng Còi bao đời nay quần tụ bên trong con đê hữu ngạn sông Nguồn. Bên ngoài đê nổi lên một doi đất mênh mông, mỗi năm được bồi thêm một lớp phù sa nên đất mầu mỡ hơn hẳn những thửa ruộng tư điền trong làng. Doi đất không vào sổ địa bạ nên không phải đóng thuế. Làng chia cho mỗi mỗi suất đinh mấy sào trồng dâu. Những dịp đầu xuân, những ruộng dâu mơn mởn chồi non lộc biếc. Từ sáng sớm cho đến tối nhá nhem, không lúc nào vắng bóng các bà, các chị áo nâu yếm thắm, rì rầm trò chuyện, vin cành hái lá, thấp thoáng trong bóng mát những lùm dâu cao rợp đầu người.

Từ bé tôi đã nhiều lần theo ông nội ra miếu Thủy Thần. Lưng miếu dựa thân đê, tường miếu ám rêu xanh mốc, mái ngói cũng rêu phong, ba khuôn cửa mặt tiền sơn đỏ hướng ra gốc đa Thủy Thần, kế bên miệng giếng Vàng. Lạ kỳ, mùa lũ, nước sông Nguồn ngầu đục, nước trong lòng giếng Vàng vẫn trong văn vắt. Pha ấm nước trà, nấu nồi rượu nếp, không dùng nước giếng Vàng, mất ngay hương vị đậm đà đặc sản làng Còi. Cây đa Thủy Thần to cỡ chục người ôm. Chú Mới nói với riêng tôi: Mày phải kín miệng đấy, trong lòng thân cây ấy rỗng như một gian buồng kín, có thể chứa nổi mấy người ăn ngủ trong ấy. Tao đã chui vào khám phá rồi. Chú chui vào bằng lối nào, Tôi chả biết.

Từ hồi mẹ chửa sinh ra tôi, trên bến đò làng đã hiện diên cái quán nước bà Thâu nằm lọt thỏm trong lòng cây đa Thủy Thần. Quán được quây kín ba mặt bằng những chiếc rễ chằng chịt đan chéo vào nhau như ba bức vách, mặt còn lại được giới hạn bởi hai rễ đa dựng đứng như hai khúc chân voi, tạo thành một khung cửa vuông vắn quay ra hướng sông Nguồn. Hằng ngày, bà Thâu nâng cánh liếp đón khách chờ đò ngồi nghỉ. Tối đến, cái quán độc nhất vô nhị ấy chỉ cần kéo sập tấm liếp xuống đã kín đáo, vững chai cứ như là thiên nhiên ưu ái tạo dựng riêng cho bà Thâu và cô Thủy vậy.

*

Ông Binh Trang đăng lính thời thuộc Pháp, bị điều động đồn trú mãi tận châu Phi. Mãn hạn, ông trở về làng Còi, trong túi áo nhà binh màu cứt ngựa có mề đay Chữ Thập Sắt và món tiền Đông Dương có thể mua được mẫu tư điền. Ngày đi, người vợ và đứa con gái ba tuổi cứ níu áo ông khóc mếu. Ngày về, vợ con ông đã nằm chung dưới một nấm mồ lạnh lẽo giữa đồng làng. Họ đã bị trận dịch tả kinh hoàng hai năm trước cướp đi mạng sống. Phẫn chí, ông quăng tõm cái mề đay sắt xuống sông Nguồn. Còn nắm tiền, ông rủ ông nội tôi sang bên kia sông ném gọn vào… sòng bạc Chánh Trinh. Trắng tay, nửa đêm hai ông qua đò, vào quán bà Thâu tu cạn lít rượu, say đứ đừ, chả biết trời trăng sông núi. Từ đấy, cuộc đời ông Binh Trang gắn với con đò ngang độ nhật. Túp lều tranh đối diện quán bà Thâu, ông dựng tạm làm chốn đụt mưa tránh nắng. Đến thời chúng tôi lớn, chỗ ấy vẫn còn trần trụi bốn bức tường lở lói đứng chơ vơ qua mỗi mùa heo may hun hút. 

Thường ngày, ông Binh Trang thức dậy cùng lúc những hồi chuông từ ngọn tháp ngôi giáo đường làng Chiêu Nghĩa. Dân làng Chiêu Nghĩa bên kia sông chuyên nghề tằm tơ, dệt lụa như dân làng Còi. Thủy thổ bên ấy trồng dâu không hợp. Vào mùa, ông Binh Trang phải chở mấy chuyến đò mới hết chị em sang bên này mua lá dâu mỗi sáng. Buổi chiều lại từng ấy chuyến đưa họ trở về, thêm mấy chục bao lá dâu lèn chặt. Trong đám con chiên ngoan đạo ấy, ông Binh Trang để ý một chị thường một mình ngồi tách biệt, đầu đội chiếc khăn vuông kín mít. Hôm nào nóng nực lắm chị ta mới xổ mái tóc dài hong gió, để lộ khuôn mặt thanh tú với đôi mắt phơn phớt xanh, phảng phất nét buồn buồn.  

Một sớm tinh sương, ông Binh Trang bừng tỉnh… hình như có ai gọi đò! Mắt nhắm mắt mở, đầu ông suýt va vào chiếc làn mây của ai treo đu đưa trước cổng. Mở tấm khăn phủ kín miệng làn, một hài nhi đỏ hỏn đang ngọ nguậy dưới tấm chăn bông mỏng. Quai làn ghim tấm giấy màu hồng vỏn vẹn một chữ Thủy. Hiểu ra sự tình, ông bình thản bồng đứa nhỏ sang quán bà Thâu, gõ cửa. Cửa mở, ông trao bé Thủy vào hai bàn tay bà Thâu, gọn lỏn một câu: Đây là con gái tôi. Nó sống hay chết trăm sự nhờ bà nhón tay làm phúc.          

Chồng và mấy đứa con bà Thâu cùng chung số phận với vợ con ông Binh Trang. Nhiều năm rồi bà trơ trọi một mình trong căn quán vắng. Nay tự nhiên có cháu Thủy bế bồng, bà mừng như nhặt được vàng, nghĩ âu cũng là duyên phúc Trời Phật thương tình. Bản năng làm mẹ trỗi dậy, tự đáy lòng, bà âu yếm xót thương đứa bé như ruột rà máu mủ của mình. Bé Thủy dường như cũng biết phận mình côi cút, bà mẹ nào qua đò thương tình cho bú thép, nó cũng chả lạ hơi, cứ ừng ực một bụng đầy rồi lăn ra ngủ. Chưa đầy năm đã long lanh đôi mắt to tròn phơn phớt màu nước biển khiến ai nấy đều giật mình liên tưởng đến người thiếu phụ qua đò hái dâu ngày nào. Đã lâu lắm rồi, bà Thâu không thấy chị ấy qua đò. Hỏi mấy bà bên ấy, chỉ được họ lầm thầm: Giê Su Ma Lạy Chúa Tôi, rồi kín đáo giơ tay làm dấu Thánh.

Lên cấp ba, tôi học cùng lớp với Thuần và Hiên. Bọn tôi cùng ở làng Còi. Ông đồ Hân, cụ nội thằng Thuần, người sống cùng thời với ông Binh Trang và ông nội tôi, nay đã gần trăm tuổi thọ vẫn chưa lú lẫn. Một lần chơi trò đô vật, tôi bị thằng Thuần ngoéo chân, ngã phơi trắng bụng, nó đắc chí hét to: Mày kềnh “Binh Trang” rồi nhé. Cụ Đồ cười nheo mắt hỏi hai đứa: Biết “kềnh Binh Trang” tự tích nào không? Chúng tôi đều chịu. Cụ hấp háy cười cười rồi thủng thẳng: Thì cũng từ ông Binh Trang làng mình chứ ở đâu? Chả là hồi đó có người vô tình nhìn thấy ông ấy vật kềnh một chị con chiên làng Chiêu Nghĩa giữa ruộng dâu… rồi thành câu cửa miệng tới ngày nay. Cô Thủy là con của ông ấy với chị ta đấy. Tội nghiệp con bé chẳng biết mẹ mình là ai. Ông Binh Trang cũng chẳng hó hé nửa lời. Thấy nó giống y hệt pho tượng Thủy Thần, dân gian mới đồn thổi là con gái Thủy Thần. Láo toét cả.    

Lần khác, cụ hỏi tôi: Có biết vì sao, cái lão Binh Trang và ông nội cháu thuở ấy lại thân thiết với nhau như anh em ruột thịt không? Ông của cháu thì tóc búi củ hành điềm đạm Nho phong, trói gà không chặt. Lão ấy ấy thì râu tóc bờm xờm, vai u thịt bắp… Thế mà họ kết nhau khắng khít như hình với bóng. Nói xong, cụ không giải thích một lời. Tôi về hỏi bà nội. Bà im lặng. Mãi đến ngày giỗ ông tôi, cách nay gần chục năm, bà tôi mới vén màn bí mật: Tao lạ gì hai ông ấy. Con ma bạc bài xóc đĩa tổ tôm nó gắn kết đấy. Xà vào sòng bạc, ông mày không được ông Binh Trang hộ vệ thì bọn giang hồ tứ chiếng nhà Chánh Chinh, nó trấn cho lè lưỡi. Xứ này, ai lạ gì cái ổ cờ bạc bịp ấy, tay chân thằng ấy toàn một bọn chém cha, đâm chú. Con bạc thắng nhỏ, nó để yên ổn ra về, thắng lớn, chúng đón đường đè cổ lột sạch túi. Bọn côn đồ ấy chỉ kiềng mỗi ông Binh Trang thôi. Ngày ấy, tao ghét cay ghét đắng hai lão cặp kè với nhau. Cả một gia sản mấy chục mẫu ruộng của các cụ để lại, đến đời ông mày lần lượt chui vào cái bát với bốn đồng trinh leng keng sấp ngửa. Nhưng mà bây giờ nghĩ lại, ông mày thế mà khôn, cứ khư khư giữ của như ông Cai Huấn, ông nội cái Hiên, đến thời Cải cách ruộng đất đã mất sạch mà còn bị đấu tố dập vùi, con cái suốt đời phải đội trên đầu cái lý lịch đen sì địa chủ, dẫu học hành tử tế cũng chỉ theo đít trâu mãn kiếp. Mày được học lên bậc Đại học, được ăn lương Nhà Nước, chú Hoàn mày nên tướng nên tá, đi đông đi tây cũng nhờ ông mày một thời phá gia chi tử đấy con ạ.

Canh bạc cuối cùng trong đời ông tôi và ông Binh Trang, đượm màu huyền hoặc, bây giờ nói chẳng ai tin. Thuở ấy, nhiều người đương thời đã nghe từ miệng hai ông kể ra. Chuyện rằng, ông tôi lừa dịp bà tôi bận công việc bên ngoại mấy ngày. Ông tôi viết văn tự bán đứt năm sào ruộng nhất đẳng điền. Bỏ bị số tiền lớn, ông rủ ông Binh Trang mò sang sòng bạc Chánh Trinh. Đêm ấy gió may đầu mùa rải khắp mặt sông, bầu trời như co lại trong cơn rét mướt. Đang cữ trăng rằm mà u ám, khắp dải ngã ba sông Nguồn sương khói dâng đầy. Ông Binh Trang vuốt nhẹ mái chèo, con đò chở hai ông lừ lừ trôi ra giữa sông mới phát hiện một thiếu nữ xõa tóc ngồi im phắc chỗ mũi thuyền tự lúc nào. Tức bực, ông tôi bảo ông Binh Trang quay đò trở về: Vừa khởi hành đã gặp vía đàn bà. Có mà đen tận mạng.  Đáp lời ông tôi, từ mũi thuyền vang lên tiếng nói: Hai ông cứ đi đi. Biết đâu Đức Ngài Thủy Thần cho thắng lớn đấy. Thế rồi con đò chẳng theo ý người chèo, cứ vun vút lao qua màn sương chạm bờ bên kia. Hình như có cơn gió nhấc bổng hai ông bước lên bờ. Nhìn lại, lòng đò trống không. Người con gái bí ẩn kia biến đi đâu mất. Canh bạc ấy, hầu bao của mấy chục con bạc, của nhà cái bị ông tôi vét không còn một cắc. Vãn cuộc, hai ông nhét chặt bị tiền, thêm mấy túi quần túi áo cũng thè lè giấy bạc. Suốt đoạn đường hai ông quay lại bến sông, lo sốt vó vì sát sạt ngay sau gáy, mấy chục bó đuốc chập chờn đuổi theo hò hét… nhưng lạ thay, chẳng thằng nào bén gót.

Bà tôi kể: Sau đêm ấy, ông mày tỉnh ngộ, bàn với ông Binh Trang đem hết  bị tiền ấy lập nên ngôi đền thờ Đức Ngài Thủy Thần. Mọi sự êm xuôi, riêng công việc tạc tượng Đức Ngài hơi khó hiểu. Phiến đá đen chở từ Thanh Hóa đã về tới bến, mấy ngày sau ông thợ điêu khắc tóc dài quá vai, áo quần xốc xếch mới ngất ngưởng đeo bị dụng cụ đến nhận việc. Ông ta giao hẹn, cho ăn chay, nhưng rượu không được thiếu. Lại bắt quây kín chỗ ông làm việc, cấm tiệt mọi người nhòm ngó.

Mất gần hai tháng, pho tượng mới hoàn thành. Đấy là buổi sáng, không ai nghe tiếng búa cúc ca cúc cắc, cũng chẳng thấy ông thợ tóc tai trắng phớ bụi đá ngất ngưởng đến quán bà Thâu nhận chai rượu làng Còi như mọi bữa. Ông tôi cho người mở tung mấy tấm liếp che, chỉ thấy pho tượng đá đứng sừng sững và tấm giấy ghi mấy dòng: Hình ảnh Thủy Thần y như pho tượng này. Chính Ngài làm mẫu cho tôi tạc đấy. Xin đừng nghĩ chuyện trả tiền công… Hóa ra Thủy Thần không phải đức ông. Trước mặt mọi người, pho tượng không giống hình hài Ngài Thủy Thần hung dữ như trong mường tượng dân gian. Mà là một thiếu nữ, cũng thắt đáy lưng ong, cũng áo dài tứ thân giản dị như những cô thôn nữ làng Còi, nhưng khuôn mặt thì xinh đẹp khác thường, từ sống mũi thanh tú, đôi môi mòng mọng, cho đến ánh mắt dịu dàng hiền hậu đều toát lên thần thái rất con Người.   

Không ai dám nói ra miệng, nhưng đều chung một ý nghĩ, càng nhìn lâu, pho tượng thờ càng hao hao giống cô Thủy quán bà Thâu. Tới khi Cô Thủy lên thời thiếu nữ, từ anh nông phu khờ khạo cho đến bậc sĩ lâm sắc sảo, người nào cũng phân vân, chả biết cô Thủy là hình mẫu cho nhà điêu khắc tài ba hay là Đức Thủy Thần đã tạc những đường nét thanh xuân của cô Thủy rập theo khuôn mẫu của chính Ngài.  

Ông Binh Trang đột nhiên mất tích. Rất nhiều người nhìn thấy con đò của ông lừ đừ trôi giữa vụng Thủy Thần, một mái chèo khô ráo gác lên mạn thuyền, môt nửa mái chèo bên kia dầm trong nước lạnh, nửa trên chĩa thẳng lên trời, dân làng tìm suốt mấy ngày chả thấy tăm hơi…

*

Đã da đen trùi trũi, trên người lúc nào cũng độc nhất chiếc quần đùi, lại quanh năm suốt tháng ở trần trùng trục phơi ra đủ sáu múi cơ săn cứng trên lồng ngực nở nang, chú Mới chả giống anh nông dân nào ở làng Còi. Thêm bắp vế rắn chắc, cánh tay như khúc tre già, chú chưa đọ sức với ai, trai làng cũng chưa người nào dại dột vật tay đôi với chú. Đầu không để tóc dài, hơi nhu nhú đã cạo nhẵn thín, người hiếu kỳ hỏi lý do, chú cười hề hề: Ngày mấy bận nhảy ùm xuống sông, ngoi lên vuốt mặt, vuốt đầu vài cái đã ráo khô.

Cá chép và ba ba là hai sản vật ngon nổi tiếng vụng Thủy Thần. Cánh thuyền chài bên kia sông đã từng bủa lưới thả câu, nhưng đã xẩy ra mấy vụ cả thuyền lẫn người, chìm lỉm, nên chả còn anh nào cả gan nữa. Vụng Thủy Thần mặc nhiên trở thành cái ao nhà chú Mới. Chú có thể lặn dưới nước hàng giờ. Nhiều người lè lưỡi hỏi: Thở bằng mang à. Chú thản nhiên: Chứ sao! Riêng tôi, chú cho xem một đoạn dây được nối bằng những ống sậy, ngậm vào mồm… Tao có thể lặn một hơi vòng quanh vụng Thủy thần…

Giặc Pháp lập “tề”, phía bên kia vụng Thủy Thần, địch đóng đồn Xanh. Giữa đồn, nhô lên ngọn tháp canh cao ngất. Trên đỉnh tháp lù lù khẩu đại liên quay nòng tứ phía và thằng lính nhăm nhăm chiếc ống nhòm. Làng Còi và bến đò không còn yên bình nữa. Chú Mới cũng không còn được tự do lặn ngụp trong vụng như trước nữa. Muốn bắt con cá chép cũng khó. Liều mạng thử vài lần, vừa nhô đầu lên, chú đã bị một tràng đạn xẹt qua đầu, tóe nước. Biết chú Mới có tài tay không bắt cá theo ý muốn, thằng Tây trưởng đồn sai lính truyền lệnh phải nộp mười con, chú từ chối rồi trốn biệt.

Bà nội tôi có ý ghép đôi chú Mới với người cháu họ của bà. Đôi bên đã thuận tình chờ ngày cưới hỏi. Bất ngờ chú Mới lặn mất tăm, hôn sự phải hoãn lại chả biết đến bao giờ. Sau này tôi được biết, lúc ấy chú Mới đã là đội viên đội du kích làng Còi. Tình hình chiến sự mỗi ngày một ác liệt. Thằng tây Cút Xô đồn phó thả cho bọn lính bắt gà bắt vịt, đốt nhà, hãm hiếp giữa thanh thiên bạch nhật. Người vợ sắp cưới của chú Mới đã bị nó và cả tiểu đội Âu Phi thay nhau làm nhục cho đến chết. Thi thể chị và mấy nạn nhân nữa được dân làng vội vàng chôn cất ngay đêm hôm ấy.

Mấy hôm sau, thằng Cút Xô và mấy thằng Âu Phi bị mất tích một cách bí ẩn trong khi bơi lội trong vụng Thủy Thần. Địch đưa người nhái về lặn tìm mấy ngày chẳng tìm ra dấu vết. Lính đồn sợ xanh mặt. Thằng đồn trưởng một mặt cho dừng hẳn các cuộc càn quét, một mặt ra lệnh binh lính phải bơi lội trong vụng bình thường như chẳng có chuyện gì. Chú Mới bị mắc tấm lưới chúng bí mật giăng ra đón lõng. Chẳng cần tra tấn, chú bị giặc treo lên ngọn đa Thủy Thần rồi xả nhiều tràng đạn. Nếu chúng biết trong bụng cây đa từ lâu đã là căn hầm bí mật anh du kích Mới thường núp trong đấy thì, cái quán bà Thâu và gốc đa Thủy Thần chắc chắn không còn đến ngày nay.

Tháng 5 năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Chú Mới được tuyên dương Liệt sĩ. Chú không có gia đình, không nhà cửa. Bằng Tổ quốc Ghi công và linh vị chú được thờ trang trọng trong miếu Thủy Thần.

*

Chỉ còn mấy tháng nữa chú Hoàn thi lấy bằng Tú Tài toàn phần thì xẩy ra sự kiện quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương đảo chính Pháp. Đường tàu hỏa Hà Nội – Ninh Bình bị bom phá hoại. Nhà trường đóng cửa, chú ngồi đò dọc về quê. Nửa đêm, đò ghé bến Thủy Thần. Bữa ấy trăng suông, gió lặng. Trong quán bà Thâu tối om om. Bến vắng tanh. Đi qua giếng Vàng, chân chú Hoàn vấp một bầy vịt vàng chóe đang lạch bạch qua bờ giếng rồi, xếp một hàng dọc rùng rùng chuyển động theo bóng một người con gái ra hướng bờ sông. Chú Huân vô thức nhập vào cuối đàn. Đàn vịt ùa xuống mặt nước, ánh vàng soi rõ những cái đầu, cái mỏ nhấp nhô, óng ánh trên sóng nước. Tới lúc nước ngập ngang thắt lưng, cô gái quay lại, hướng khuôn mặt sáng như gương, miệng nhoẻn cười, đoạn chiếu ánh mắt xanh biếc rọi thẳng vào mắt chú Hoàn. Đang lúc chú rơi vào tình trạng mất hết tự chủ thì, ông Binh Trang thình lình xuất hiện kéo chú lên bờ…

Bừng tỉnh, trước mặt chú chỉ còn mặt sông lăn tăn sóng vỗ. Chả nghe đàn vịt vàng vỗ cánh bành bạch, cũng chả thấy người con gái bí ẩn lúc nãy. Ông Binh Trang phải áp giải chú Hoàn leo qua qua mặt đê rảo bước về làng. Ông bảo với ông bà tôi: Là ma giếng Vàng đấy. Tôi đã cứu được mấy người, y như tình trang thằng Hoàn đêm nay. Hễ đêm nào giời sáng giăng suông, chập tối mà nghe sóng sông mơ hồ những âm thanh rờn rợn như tiếng khóc than, y rằng thế nào cũng có người bị nó dẫn dụ xuống sông. Những cái bồng bênh xấu số mỗi năm nổi lên trong vụng Thủy Thần, nguồn cơn cũng ở con ma nữ ấy. 

Đêm ấy chú Hoàn không chợp mắt. Vừa chớm rạng đông, sương mù cuối năm còn dày đặc, chú lặng lẽ ra khỏi nhà, một mình thẳng hướng bến đò làng. Như thường lệ, ông Binh Trang đang vừa húng hắng ho vừa lục cục cột đôi quai chèo dưới bến. Cô Thủy cũng như thường lệ đẩy nhẹ tấm liếp, thắp lên một ngọn đèn dầu treo lên cửa quán. Chú Hoàn ngẩn ngơ đứng hồi lâu bên bờ giếng Vàng, kiên nhẫn đợi bầy vịt đêm qua xuất hiện, chỉ thấy mặt giếng tối mù sương phủ. Như kẻ mộng du, vô thức dẫn chú ghé quán bà Thâu. Cô Thủy ngẩng mái đầu vô cùng xinh đẹp, bồng bềnh những lọn tóc mây, miệng nhoẻn nụ cười thay lời chào.

Dán mắt vào khuôn mặt thiếu nữ trước ngọn đèn mờ ảo, chú Hoàn thét to: Con gái Thủy Thần. Rồi cắm đầu chạy xuống bờ sông. Ông Binh Trang lại phải một phen kinh sợ té nước vào mặt chú. Nhận thấy cứ đà này, chú Hoàn sẽ bị ám ảnh ngày một nặng, ông bà tôi nhờ người dẫn chú vào Thanh Hóa gửi nhà người bạn đồng môn để chú theo học tiếp. Cuối năm chú nhắn về, đã xung phong gia nhập đoàn quân Nam tiến. Từ đấy chú xa nhà liền một mạch mấy chục năm. Ngày ông, bà tôi lần lượt quy Tiên, muốn nhắn chú về, chẳng ai biết một thông tin. Kết thúc cuộc Kháng chiến chống Pháp, chú vẫn biệt vô âm tín. Mãi sau ngày ba mươi tháng tư năm 1975, chú mới gửi về nhà một lá thư, báo tin đang công tác ở nước ngoài.

*

Tên đồn phó Cút Xô râu xồm ác ôn bị tiêu diệt, Viên trung úy Đờ Béc Na được điều động về thay thế. Tên này còn rất trẻ. Nghe nói hắn xuất thân có học. Lần chỉ huy càn quét đầu tiên đổ bộ lên bến Thủy Thần, hắn đã bị sắc đẹp của cô Thủy khuất phục. Năm trước, chú Hoàn mê sảng thốt lên: Con gái Thủy Thần. Chả biết thằng này có bị ám ảnh đến độ ấy không, nhưng mà hôm ấy chính miệng nó đã đờ đẫn lắp bắp: Nữ Thánh… Nữ Thánh!

 Trực tiếp chứng kiến giây phút kinh hoàng bọn giặc treo chú Mới lên ngọn đa rồi xả súng, bà Thâu và cô Thủy chả còn hồn vía nào mà ở lại cái quán đơn độc ấy nữa. Họ dọn về sống chung với bà tôi. Ba ngày trước khi đồn Xanh cuốn xéo, cô Thủy bị mất tích trong lúc quảy thùng ra bờ sông kín nước giếng Vàng... Người ta chỉ tìm thấy đôi thùng kẽm lăn lóc bên bờ giếng và đôi dép của cô nổi vật vờ trên mép sóng ven sông.

Lại có anh thuyền chài quả quyết trông thấy ông Binh Trang hiện ra trong đám sương mù, ghé lưng cõng con mình lặn xuống vụng Thủy Thần. Hư thực chả biết đâu mà lần.

*

Cái tổ tam tam gồm cái Hiên, thằng Thuần và tôi duy trì đầy đủ sĩ số từ cấp một đến cuối cấp ba. Ba đứa chúng tôi cùng ở làng Còi, cùng chung một tuổi thơ nín thở theo mẹ chạy càn thời Pháp. Đến thời chống Mỹ thì cùng đội nón rơm, ôm bụng đói ngồi học trong những lớp nửa chìm nửa nổi trên mặt đất. Năm cuối cấp ba, mỗi đợt tuyển quân, mỗi lớp lại vơi đi mấy đứa. Tổ chúng tôi vẫn vẹn nguyên ba đứa. Chẳng phải chúng tôi kém cỏi tinh thần yêu nước. Nguyên do, tôi thấp bé nhẹ cân, ba lần khám sức khỏe, ba lần bị loại ngay vòng đầu. Thằng Thuần là hạt giống đỏ, có nhiệm vụ phải học tiếp để mai mốt bổ xung vào đội ngũ trí thức công nông của làng Còi. Còn cái Hiên phận gái, nếu nó là trai thì cũng không được chọn vì thành phần địa chủ. Oái oăm thay, nó và thằng Thuần yêu nhau đã mấy năm rồi.

Gần đến ngày nộp hồ sơ thi đại học, hai đứa rấm rứt buồn chả thiết ăn thiết ngủ. Cái Hiên xung phong đi bộ đội còn không được duyệt, làm hồ sơ thi tuyển đại học, chắc chắn chẳng cấp chính quyền nào phê chuẩn. Thằng Thuần bàn với tôi: Tao sẽ để giấy trắng bài thi, ở nhà với Hiên. Tôi can: Bố mày biết thì ốm đòn. Bố nó là du kích năm xưa cùng với chú Mới ẩn trong ruột cây đa Thủy Thần. Tôi trúng tuyển đại học. Thằng Thuần trượt. Mưu mẹo thằng Thuần không qua được mắt bố nó. Ông gầm lên: Mày mụ mị vì ăn phải bả địa chủ rồi.  Ông vẫn bố trí nó giữ chức Bí thư xã đoàn, giao hẹn cấm bén mảng với con Hiên. Thằng Thuần ư hừ vâng dạ. Tôi biết hai đứa nó tình sâu nặng vậy, bỏ nhau sao được.

Thằng Thuần nhận lệnh lên huyện phụ trách đội thanh niên xung phong chi viện cho tuyến đường Trường Sơn. Thuần được xung vào khẩu đội phòng không 12 ly 7. Ụ súng của sáu cô gái làng Còi đặt trên nền lô cốt đồn Xanh ngày trước. Tuyến vận tải qua làng Còi bị lộ, giặc điên cuồng tập kích. Ụ súng của tiểu đội dân quân gái làng Còi đã anh dũng chiến đấu, lập nên chiến công bắn hạ một máy bay phản lực. Một mình cái Hiên chèo thuyền ra giữa sông bắt sống tên giặc lái cao lớn kềnh càng. Vào trận oanh tạc hôm sau, một quả bom rơi trúng ụ súng. Thân thể sáu liệt sĩ tan vào trời đất, lặn sâu xuống đáy sông Nguồn. Tôi về làng, ngồi cúi đầu bên những tấm bia ghi tên các chị người làng, muốn nói với bạn mấy lời nhưng nấc nghẹn…

Thằng Thuần tập tễnh chống nạng về làng. Hòa bình rồi, việc giao thương giữa đôi bờ sông Nguồn trở nên cấp thiết. Nó ra bến sông làm anh lái đò ngang. Căn quán bà Thâu trong lòng cây đa Thủy Thần nó sửa sang làm chỗ nghỉ ngơi, ăn ngủ. Tôi hỏi: Có trợ cấp thương binh đủ sống, sao chịu dãi gió dầm sương làm vậy? Nó rưng rưng: Tao ở đây để được gần gũi em Hiên. 

Năm mấy lần về quê, tôi đều ra bến sông ngủ chung với nó. Nửa đêm nào nó cũng kéo tôi ngồi dậy, ghé vào tai tôi thì thầm: Mày nghe thấy gì không? Em Hiên đang gọi tao. Tiếng em gần lắm mà xa lắm: Đáy sông lạnh lắm anh ơi!

*

Vào dịp bến đò Thủy Thần mở hội đón nhận danh hiệu anh hùng và Huân chương Chiến công qua hai cuộc chiến chống giặc ngoại xâm, làng Còi mời chú Hoàn từ thành phố Hồ Chí Minh về dự. Lễ lạt xong xuôi, chiều muộn, chú cháu tôi tản bộ thăm bến sông xưa. Trước cửa quán bà Thâu ngày trước, thằng Thuần ngồi một mình, chân lành duỗi thẳng, chân bị cưa quá đầu gối đè ngang chiếc nạng. Nó chỉ những xác giấy đỏ xanh rơi vãi đầy mặt đất, Miệng méo xệch: Cuộc đời không thể thiếu niềm vui. Chỉ nỗi đau của tao vẫn chôn chặt trong lòng. Tôi chẳng biết nói lời nào an ủi nó. 

Chiều ấy, bên gốc cây đa Thủy Thần, chú Hoàn ngồi giữa, hai cánh tay quàng qua vai hai chúng tôi, giọng chú xa xăm như đang tâm sự với người vô hình nào đó, rất gần: Có chuyện này, bây giờ chú mới nói cho hai đứa biết. Ngày chú đảm nhiệm chức vụ Tham tán quân sự tại thủ đô nước Pháp, trong một buổi đại sứ quán ta mở tiệc chiêu đãi nhân ngày Quốc Khánh 2/9, có rất nhiều quan khách ngoại giao đến dự, chú đặc biệt chú ý đến ngài nghị sĩ Đờ Bec Na và phu nhân. Chú biết, với vai trò nghị sĩ, Ngài ấy đã có nhiều nhiều hoạt động thiết thực giúp đỡ chúng ta nhiều năm liên tục. Bà Phu nhân đài các sang trọng của ngài ấy, hai cháu đoán là ai không? Là cô Thủy, người đã từng có nhiều năm sống trong cái lều này đấy. Bữa ấy hình như cô Thủy cũng nhận ra chú nhưng vờ như xa lạ. Có thể cô ấy nghĩ rằng nếu để lộ mối quen biết này thì chú sẽ gặp khó khăn trong công việc. Thuở ấy ta còn chiến tranh với Mỹ mà.

Câu chuyện về cô Thủy vậy là có hậu. Nhưng, hiện thời dân làng Còi đang phong thanh tin đồn: Ông Binh Trang còn sống. Một người làng đi thăm thằng cháu nội đang công tác tai một đồn biên phòng tỉnh Lạng Sơn, kể rằng, đã gặp nhưng không kịp hỏi, đôi vợ chồng ông già cúi đầu bước theo con ngựa thồ leo dốc. Ông già mặc bộ đồ chàm, đầu trọc lóc. Mỗi lần khẽ quất cây roi vào mông ngựa lại khẽ chửi: Xà lù … cu soong. Bà vợ lầm lũi theo chồng, dáng đi của người cao tuổi nhưng tấm lưng cong cong vẫn giữ được những nét son sẻ thời thiếu phụ. Chẳng phải ngày xưa ông Binh Trang hay chửi xà lù …cu soong là gì?

Chao ôi! Cái làng Còi của tôi xưa nay đến lắm tin đồn!

Nguồn Văn nghệ số 34/2020

 

 

Tin liên quan

Con Pai ro mhai ra đi, người S’Tiêng ở lại

Trở lại nơi vùng đất cách xa nhất trung tâm tỉnh Lâm Đồng (xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên), cảm xúc ...

Trở lại miền đảo xa

Ra đến đảo, lần nào cũng thế, khi đặt chân lên cầu tàu ở đảo, lòng tôi đã dâng đầy cảm xúc, một Cô T ...

Thơ đoạt giải cuộc thi Thơ báo Văn nghệ (1019 - 2020)

TÒNG VĂN HÂN Mẹ tôi chửi kẻ trộm Những lần gà nhà tôi bị mất Mẹ tôi chửi: - Cái đứa trộm g ...

Gió Lào

Quê tôi nhiều đặc sản, một trong những đặc sản được thiên nhiên ban tặng là gió Lào. Mỗi năm, vào đầ ...

Từ một bài thơ đến việc đặt tên cho một thị trấn

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm Vinh năm 1975, tôi được phân công về dạy học ở Trường ...

Những chuyến đi và nền tảng cho thi ca

Chúng tôi thường đùa là nữ thi sĩ Việt Nam có 3 cái vai: vai gánh công việc, vai gánh gi ...

Những người giữ hồn làng

Thiên hạ bảo, người ta phát hờn ghen với người làng Gang của tôi ở cái xã Thụy Ninh thuộc huyện Thái ...

Mưa đầu mùa

Sớm nay, trong cái vắng tanh của con ngõ, tôi gõ nhẹ vào cái hộp gỗ đựng trà, nghe tiếng rỗng không. ...

Tiếng hát yêu đời

...Trịnh Công Sơn là người thuộc thế hệ của những con người bị ném vào lò lửa của chiến tranh khốc l ...

Phố núi mùa dã quỳ vàng rực

Cao nguyên Gia Lai hình thành bởi dãy núi lửa đã chết hơn triệu năm. Bước chân đến Pleiku tôi đã mơ ...

Ca trù và duyên phận

Nghệ nhân ưu tú (NNƯT) Phùng Thị Hồng sinh năm 1952 tại làng Đại Phùng, xã Đan Phượng, huyện Đan Phư ...

Có một hương xuân trong lòng thị xã!

Trời chuyển sang mưa, cái lạnh se se giữa những ngày xuân ấm vừa qua khiến ta chùng lòng... Muốn nắm ...