Bến mẹ


 

 Mỗi lần về thăm quê nhà, Sinh hay dừng xe máy ở bến Cẩm La. Nơi đây ngày xưa là một bến đò đông đúc, nhưng giờ không tiện đường nên rất ít người qua lại. Trên bến sông hiện giờ chỉ có một con thuyền nhỏ buộc vào dây cáp để người đi tự kéo qua sông. Con thuyền ấy chủ yếu chở học sinh và người trong làng đi làm đồng hoặc qua lại thăm nhau. Bến Cẩm La giờ thật vắng vẻ. Mặt sông rộng mênh mông. Nước trong văn vắt, quạnh hiu, đượm buồn.

Dựng xe máy, Sinh ghé vào quán bên đường, thực ra ở đây cũng chỉ có mỗi một quán hàng nhỏ xíu này. Sinh chào chị bán hàng và bao giờ chị cũng rót cho anh một bát nước vối. Anh gọi thêm gói kẹo lạc, một điếu thuốc lá... để trả tiền cho vui hàng chứ anh cũng chẳng ăn, uống hay động vào những thứ ấy cho đến khi dời bến.  Sinh ngồi đó, lơ đãng rồi đứng dậy như dáng một kẻ mộng mị, bước lại phía bến đò ngắm trời, ngắm đất.

Trừ gốc bàng có quán hàng nọ thì bến Cẩm La cây cối lưa thưa, cằn cỗi. Dưới bến, lá cây cùng bùn đất ngập đầy. Vài hòn đá lô nhô vừa đúng bằng bàn chân người khi bước xuống thuyền. Bên kia sông, một vùng đất thê lương, cây cối vàng quạch. Ba bề bốn bên không một bóng người, chỉ thấp thoáng một đường mòn đá lổn nhổn, ngoằn ngoèo, sau khuất dần phía chân núi Con Phượng.

       Giữa cảnh vật điêu tàn ấy, thứ còn lại duy nhất ở bến Cẩm La chỉ còn là mây trắng. Thật vậy, ở đây mây trắng nhiều vô kể. Mây trên trời. Mây dưới sông. Phía trước, phía sau...nhìn đâu cũng mây trắng giăng hàng. Mây trắng như bông. Trắng hơn cả bông. Như ngọc và trắng hơn cả ngọc...bồng bềnh đứng, bồng bềnh trôi như vô tận. Có khi mẹ và cô Màu bây giờ ngồi ngao du trên những tảng mây ấy mà nhìn xuống đây, ôn lại chuyện ngày xưa cũng chưa biết chừng... Nhiều lần Sinh tự nhiên nghĩ vớ vẩn thế. Mẹ anh mất năm tám mốt tuổi. Cô Màu còn hơn tuổi mẹ chắc cũng đã khuất núi? Làm gì có ai sống mãi mãi. Nghĩ đến đây, Sinh lại thở dài.

      “Dạo ấy tao gọi là chị Màu, nhưng bà bắt phải gọi bằng cô”. Mẹ nói thế. Cô Màu hơn mẹ đến bốn tuổi. Cô là con bà phó Nguyên. Mẹ đi ở cho nhà bà phó Nguyên để làm bạn với cô, đúng hơn là cho Màu có bạn để đi chợ Đình Cam bán thuốc lào cho bà phó.  Chợ Đình cam họp vào ngày hai, ngày bảy. Sáng chợ phiên, mẹ cùng cô dậy sớm, ăn uống qua quýt rồi đeo túi, đội thúng thuốc lào, mau mau đến bến đò Cẩm La, cái bến duy nhất từ phố huyện đến chợ. Chợ Đình Cam trên bến, dưới thuyền bán hàng chạy lắm. Đi chợ bán hàng mà lãi một gấp đôi, gấp ba ai chả ham. Bày hàng ra bán ào một lúc là hết, ăn quà bánh xong lại qua bến đò Cẩm La mà về. Vui lắm. “Tao mười ba tuổi đã nhuộm răng đen. Thế mà cô Màu không nhuộm. Cô bướng lắm”. Bướng thế nào... Các con nhao nhao hỏi. “Bướng là bướng chứ biết bướng thế nào cho cùng”. Bà phó bảo cô nhuộm răng, cô không nhuộm. Nói: “Đấy thích thì đi mà nhuộm, đây không thích thì không nhuộm ...làm gì được nhau nào”. Đấy, cô Màu nói thế. “Không nhuộm thì răng trắng như răng chó ấy, ma nó lấy”. Cô cãi: “Đây không thèm chồng. Đấy có thích thì đi mà lấy”. “Tiên nhân cha đồ vô phúc mạt kiếp”... Thế là mẹ con bà phó đuổi nhau. Nói cho đúng thì bà phó cầm chổi đuổi cô Màu. Nhưng bà phó vừa chậm, mắt mũi lại tèm nhèm. Đuổi được một đoạn thì xấu hổ với hàng phố nên bà đứng lại, huơ tay chửi theo: “Cha tiên sư con quạ mổ, con thằng phó cối”. Cô Màu không dám chửi lại nữa, nhưng nhạo lại bà. Cô chun chun cái mũi dọc dừa, nhướng cặp chằng mày cong vút, chồng hai bàn tay vào nhau, đặt trên mũi, vẫy vẫy ngón làm giả cái vòi con voi, hoặc như cách người Tây thổi kèn đồng: “Toe cần loe! Toe cần loe là toe cần loe”... Cái cách ấy làm bà phó đang giận cũng phải bật cười. Bà vừa lẩm bẩm chửi, vừa đi về nhà.

       Bà phó Nguyên nhà ở giữa phố huyện. Từ phố huyện đi một thôi dài thì đến bến Cẩm La. Từ bến Cẩm La đi hai xu tiền đò nhà anh Chương, sang bến, men theo bờ sông cạnh núi Con Phượng, đi hai thôi dài nữa thì đến chợ Đình Cam. Dạo ấy nói “phó” là cách người ta chỉ nghề, như phó may, phó mộc, phó cạo...Ông Nguyên cũng gọi “phó” nhưng là phó cối. Đi đóng cối xay thóc thuê cho dân trong vùng.

Phó cối là nghề phức tạp, vác đít đi ngồi lê ăn cơm thiên hạ. Nói “Đầu chày đít thớt” cũng là gọi nghề phó cối. Nghề phó cối vừa đểu, vừa tham. Công sá là năm hào, có lệ rồi. Nhưng cũng một cái cối xay mà có người thợ chỉ làm một buổi. Có thợ thì bây ra, kêu khó... làm hai ngày mới xong mà chủ cũng phải chịu. Cơm rượu phải như cơm hầu. Trà thuốc cũng phải đàng hoàng... thất ý cái anh phó cối là rất mệt. Được lòng phó thì cối xay chín gạo, nhẹ tênh tênh. Thất ý nó thì kéo cái cối nặng như kéo cái cùm. Lúc xay thì nẩy lên cầng cậc. Gạo xay ra không đớn thì cũng còn nửa là thóc. Có khi còn bật cả răm ra. Bấy giờ mới biết là dại. Bực quá thì đứng vỗ nọ vỗ kia mà chửi bố nó lên... Chửi đi. Nó chả vác đít sang làng khác rồi. Mồm chửi tai nghe.

Ông phó Nguyên là loại “gặp đâu bâu đấy”. Đến đâu là gái gú đến đấy. Thôi thì gái lỡ thì, gái góa, gái bỏ chồng... ừ tuốt. Cứ gần là y như có cô phải lòng phó Nguyên. Thế là ễnh bụng lên, rồi đẻ. Đẻ ra thì tự nuôi chứ ông phó này cũng chẳng thí cho đồng xu nào. Ông gánh đồ đi có khi cả năm mới về nhà ngủ vài ngày, tuyệt chả cho bà phó một đồng trinh. Nói dại chứ hễ túng bấn mà ngửa tay xin tiền, thì cái mồm lão phó cối ngoa ngoắt kia chả chửi cho đến mục mả. Thế nên bà phó cũng chịu một phép mà cùng cô Màu buôn bán nuôi nhau.

       “Cái đận mẹ đi ở thì buồn cười lắm...”

Nhà mẹ ở dưới Đông. Mẹ theo bà gánh thuốc lào lên Bắc bán cho bà phó Nguyên. Thấy mẹ nhỏ nhắn mà nhanh nhẹn, bà phó thích lắm giữ lại “Dì cứ để con bé ở lại vài hôm. Cho nó ở đây chơi rồi tập đi chợ với con Màu”. Nhà bà phó cũng chả giầu có gì, lại là người làng, cùng theo đạo nên rất thân thiết. Hai mẹ con bà phó có gánh thuốc lào, sáng sáng bày ra bán trước cửa nhà. Năm ngày cô Màu lại bán ở chợ Đình Cam. Cô Màu bảo mẹ có cái cặp chằng mày dài cũng đẹp như chằng mày cô. Thày bói bảo người thế tốt số, sống lâu và giàu sang lắm.

       Bà ngoại lại về Đông. Cứ nửa tháng lại gánh thuốc lào từ Đông lên Bắc. Một chuyến cũng lãi được mấy đồng. Dạo ấy bà đi bộ qua lối bến phà Triều, qua Bãi Thảo. Đi hai ngày thì đến phố huyện. Bao nhiêu thuốc bán cả cho nhà bà phó Nguyên. Bao giờ bà cũng ngủ lại ở phố huyện một đêm, hôm sau mới về. Nhưng từ dạo Tây đóng thêm bốt ở Đông Triều, nó cấm không cho đi lại giữa vùng “Tề” và vùng “Tự do”. Thế là bà sợ không lên Bắc nữa. Mẹ tự dưng thành người ở cho bà phó Nguyên. Thật ra bà phó Nguyên cũng là người tính toán lắm. Chẳng phải bà phó bỏ gạo ra nuôi mẹ chơi đâu nhé. Bà giữ mẹ lại để đi chợ Đình Cam với cô Màu, làm tai mắt cho bà, theo dõi cô Màu bấy nay có tư tình với tay Chương lái đò. “Mày cứ thấy chúng nó làm gì, nói gì với nhau thì về mách với bà nhé, rồi bà cho tiền”...Bà phó Nguyên hấp háy mắt nói với mẹ như thế.

       “Tao chả biết hết, nhưng cũng chả nói”...

Cái cô Màu lúc nào cũng ngắm vuốt làm bà phó ngứa mắt lắm. Phải ai không phải lại phải cái anh Chương lái đò đen như củ tam thất. Răng lợi vàng khè vì hút thuốc lào. Chỉ được mỗi cái khỏe và hiền. Tuy đen thủi thế nhưng Chương lại vui tính, sởi lởi. Khách xuống đò chưa đủ người là Chương kể chuyện ma cho mà nghe. Có hôm, anh ta còn kể chuyện người chết trôi năm Ất Dậu nghe rất hãi. Kể rằng năm ấy người đói chết đầy đường. Dưới sông xác cũng trôi như củi. Đói không có gì ăn đâm đầu xuống sông mà chết. Đói quá xuống sông uống nước, mò cua bắt hến cảm chết... Nhiều nơi không chôn kịp cũng thả xác người chết đói xuống sông. Chương và bố anh ngày nào cũng vớt xác người đem chôn. Có hôm thấy một bè năm người, hai vợ chồng ba đứa trẻ con nổi lềnh bềnh bên nhau. Lại có người đàn bà áo rách, bị nước cuốn đi, tay vẫn cầm củ khoai.  Chắc định đem về cho con nhưng lỡ sa xuống sông mà chết. Khi vớt vào đem chôn, không sao gỡ được củ khoai ra. Thương quá, ai cũng khóc. Nghe Chương kể, mẹ không dám nghe, phải bịt tai, nhắm mắt lại ôm lấy cô Màu... Chợ Cẩm La họp đến trưa thì tan. Về đến bến đò thường đã xế chiều, nhưng hôm nào cô Màu cũng rủ mẹ vào một gốc cây ngồi nghỉ cho mọi người qua đò hết, chỉ còn hai cô cháu thì mới xuống đò. Trời chiều, dòng Lục Giang rộng mênh mông mà hai người cứ rù rì, kẽo kẹt mãi giữa sông. Một lần, mẹ ngồi ở mũi thuyền, vô tình quay lại thì thấy cánh tay Chương đang luồn trong yếm đỏ của cô Màu. Bị mẹ nhìn thấy, cô Màu hất vội tay của Chương ra, tát bốp vào mặt hắn mà chửi: “Đồ ngợm...” Sau lại vả cho mẹ một cái nổ đom đóm mắt: “Nhìn gì, ranh con”. “Ừ, tôi ranh con nên chốc tôi kể chuyện này với bà”. Nghe thấy mẹ nói thế, cô Màu tái mặt, sau ôm lấy mẹ vừa dỗ, vừa van xin. “Cô sai rồi. Cô xin Tí... Tí đừng kể mà bà giết cô... Hôm nào cô mua nhiều quà đền nhé”. Chả biết có phải cô Màu bảo không mà từ hôm ấy, tay Chương cứ nhìn thấy mẹ xuống đò là vội chạy lại xách tay nải, lúc lên bờ thì khom lưng cõng mẹ lên tận chỗ khô mới thôi.

       Nhưng bà phó Nguyên cũng chả sống mãi để theo dõi cô Màu đươc. Hôm ấy, chợ Đình Cam đang đông. Khách đến mua thuốc lào, hút thử, say thuốc lăn kềnh ra kín ba cái chiếu cói. Hai cô cháu bán hàng đang vui thì có người hớt hải đến bảo dọn hàng về ngay. Người ấy đặt hai cô cháu sau lưng ngựa, phóng đi. Đến nhà thì kèn trống rộn vang. Bà chết rồi, hai cô cháu khóc rú lên. Hỏi ra mới biết bà bị cảm khi đi ngoài đường. Vực vào nhà, uống thuốc, đánh cảm... nhưng không kịp. Lúc sắp chết, bà phó chỉ chảy nước mắt và chỉ tay vào hòn gạch kê chân giường, ý là giấu tiền ở đấy.

Thấy cảnh mẹ góa, con côi nên mấy vị chức sắc và người đồng đạo trong vùng liền rủ nhau cấp cho tiền mua áo quan và rượu thịt để làm ma. Thương bà, hai cô cháu khóc ngất đi, bơ vơ chẳng biết làm thế nào. May quá, trước đó Chương và mấy anh em bạn nghe tin thế liền đến lo công việc tang như con trai.  Lại cho bạn lên chợ đón hai cô cháu. Nhìn thấy Chương mau mắn, phúc đức như thế, ai cũng khen. Nhưng cô Màu thì không.

        Đưa bà ra đồng xong, cô Màu đóng cửa cả ngày. Không ăn không uống, cô chỉ khóc đứng khóc ngồi. Cuối cùng đói quá, mẹ lại đi nấu cháo hành bưng tận nơi, dỗ rằng cô ăn đi kẻo ốm... cô mới chịu ăn. Một đêm, cô cởi áo ra, chỉ vào cái bụng lùm lùm cho mẹ xem, nghiến răng nói: “Bà mất rồi, bụng tao lại thế này đây. Tất cả là tại thằng Chương, tao phải giết nó”. Tối đến, cô cầm con dao ra bến đò, mẹ sợ quá chạy theo vừa khóc vừa nói: “Cô ơi, Chúa dạy đừng giết người”. Cô quát lên: “Ừ, tao biết rồi...”. Mấy đêm liền, cô đi tìm giết tay Chương đến gần sáng mới về. Mấy hôm sau, cô bỗng cười, vuốt tóc và ôm chầm lấy mẹ, vui vẻ bảo: “Thôi, nghe cái Tí, cô cũng chả giết người nữa. Cô ừ lấy tay Chương rồi... Cái bụng này cô đẻ ra em bé thì Tí bế cho cô nhé”. “Vâng”. Mẹ vốn quý trẻ con nên thích chí gật đầu. Cô Màu vui lắm. Cô bảo lấy Chương thì cô không đi chợ nữa, hai cô cháu ở nhà bán hàng trước cửa như bà phó ngày xưa. Hai người đã bàn tính sẵn rồi. Nhưng mồng bảy này, hai cô cháu phải đi, để thanh toán công nợ cho xong. “À, tao còn cái này”. Cô nậy hòn gạch ở chân giường bà, lấy ra tráp tiền bà giấu ở đấy. “Tiền này cô và Tí lên chợ, sắm hai bộ quần áo thật đẹp. Cô một bộ, cháu một bộ. Ăn quà chán đi, còn bao nhiêu thì đưa hết cho Chương giữ hộ”...Hôm ấy hai cô cháu nói chuyện, cười rinh rích cả đêm.

      Chợ Đình Cam ngày mồng bảy.

      Hôm ấy trời nóng bức. Cô Màu mặc yếm đỏ, thắt bao xanh, đeo hoa tai, vòng cổ nom đẹp như con quan. Cô bảo Tí bán nốt chỗ hàng còn lại, cô chạy một lát thì về. Nghĩ đến bộ quần áo mới, cô bé Tí sướng rơn, vâng dạ luôn mồm. Đang khi chợ Đình Cam chật ứ người. Kẻ mua người bán tấp nập. Bỗng có tiếng lửa cháy phừng phừng, rồi súng nổ đạn bay chiu chíu qua đầu. Có tiếng thất thanh:

       “Chạy đi...cháy chợ rồi”.

      “Ối giời ơi ...cướp, nó cướp hết của tôi rồi.”

       “Chạy đi… chúng nó bao vây chợ rồi.”...

        “Ối giời ơi, nó giết chồng tôi.”...

        Tiếng khóc ré lên, tiếng hò hét vang trời. Tiếng súng nổ rát rạt, tiếng dao chém nhau phầm phập. Máu, xác chết, bùn đất, cộng với chân người quần áo tả tơi rơi rụng, vừa hú vừa chạy thục mạng. Cô bé Tí đang khiếp đảm thì bỗng có người bế thốc lên, chạy ra ngoài cổng chợ đặt xuống rồi thét... chạy đi... cô bé chạy vụt theođoàn người chạy loạn đang hướng về phía bến Cẩm La.

       Đoàn người đang chạy hăng thì bỗng anh Chương mặt mày tái mét từ đâu hồng hộc lao đến, hỏi:   “Tí... cô đâu?”. Tí chạy đến đứt hơi không nói được, chỉ tay về phía chợ Đình Cam lúc ấy đang sôi như địa ngục, súng nổ, lửa cháy ngút trời.

      “Tí ơi...về chòi đợi cô”...anh Chương gầm lên, cắn chặt răng, chạy như lao về phía chợ. Anh Chương đi tìm cô Màu. Tìm người yêu thương đang đang mang trong mình giọt máu của anh. Chương thình thịch như vừa chạy vừa khóc...

Nhưng cũng từ lúc ấy, không ai gặp lại anh cùng cô Màu nữa.

       Đêm ấy, khách đi chợ ngồi cả ở bến sông đợi hai người trở lại, nhưng không thấy. Người ta khóc mếu nói rằng Chương còn cha già cũng ở ngay trên bến đò. Cha con anh hiền lành chỉ một đời lái đò, giúp kẻ cơ nhỡ, chôn kẻ chết trôi. Chắc ăn ở phúc đức nên nay Chương sắp lấy được cô Màu đẹp người, đẹp nết lại có dấn có vốn. Thế thì chả mấy chốc mà đổi đời. Lại bảo mấy ngày hôm rồi Chương chèo đò quên cả lấy tiền, thỉnh thoảng lại hát rống lên rồi cười một mình, còn khoe với bạn rằng sắp có con nối dõi tông đường. Ai cũng mừng cho...mà sao giờ lại khổ thế này.

       Mãi sau này, có người bảo có thể vợ chồng Chương đã đi theo Việt Minh. Nhưng đi theo Việt Minh cũng phải có đơn vị, có phiên hiệu hoặc có người nhìn thấy chứ. Lại có người bảo nghe nói lúc thấy thổ phỉ nó hiếp vợ, chồng lao vào cứu thì bị nó chém chết rồi lẳng xác cả xuống sông. Mỗi người nói một phách, chả biết tin ai.

    ...     

             Giờ đây, Sinh vẫn dành lúc nhàn rỗi rẽ vào bến Cẩm La. Đến để lại vào cái quán bên đường mua vài thứ lặt vặt cho có rồi để quên ở đấy. Anh đến đây chỉ để nhìn mây và nước mà đầu óc trống rỗng. Thực ra nhiều lần anh cũng chẳng biết mình đến đây với mục đích gì. Khi còn sống, bà Tí mẹ anh không năm nào không đến đây vài bận. Kể cả khi bà biết mình sắp lìa cõi đời, bà vẫn nói đến chuyện ngày xưa, rồi theo đó mà kể cho con cháu và chính bà nghe lại những chuyện ở bến đò Cẩm La. Chuyện bà phó Nguyên, cô Màu, anh Chương... nhất là chuyện cướp của giết người trong phiên chợ mồng bảy ở Đình Cam.

Sinh vẫn bị dằn vặt một điều gì đó. Có thể anh vẫn cho là cô Màu, anh Chương vẫn còn sống. Nhà họ ở đâu đó gần bến Cẩm La. Vì thế anh vẫn thường xuyên ghé qua đây với hy vọng hão huyền, ngõ hầu làm vui lòng người mẹ quá cố chăng? Hoặc cũng chả phải vì thế, mà Sinh chỉ đến để chơi. Với anh, từ lâu bến Cẩm La trở thành thiêng liêng... từ lâu anh đã thầm gọi là bến mẹ. Vả chăng, anh đến đây cũng để ngắm mây cho thỏa thích. Như tự thuở khai thiên lập địa, bến Cẩm La đã ngập tràn trong mây trắng. Những rừng mây trắng hối hả bay ngang trời. Mây bay miệt mài không nghỉ, giăng hàng và chẳng cần giăng hàng khi bay qua bến Cẩm La. Hình như mây trắng khắp thế gian đều bay qua đây, nhưng chỉ bay đúng một lần mà không bao giờ trở lại.

        Cho đến một ngày, trong lúc ngắm nhìn mây, Sinh đã gặp được cô Màu và anh Chương. Họ vẫn trẻ như thuở ấy. Ngôi nhà của họ hóa ra cũng chẳng xa xôi gì, nó ở ngay giữa vương quốc mây ngàn. Nhà cô Màu nom từa tựa một chiếc thuyền bằng mây, có mái chèo bằng mây. Cô Màu với đôi chằng mày cong như vẽ, khoác khăn áo bằng mây trắng, ngồi trên chiếc ghế bằng mây hồng... cô đẹp rực rỡ như một nàng tiên. Anh Chương thì vẫn vậy, anh đang cặm cụi chẻ củi, những thanh củi cũng bằng mây. Cô Màu ngồi đó, khuôn mặt cô rất nghiêm nghị, trầm tư... chỉ đến khi nhận ra Sinh giơ tay vẫy vẫy mình, cô mới nở một nụ cười.

Nguồn Văn nghệ số 28/2019

      

Tin liên quan

Lẩn thẩn thời thương mến

...Nhạc sĩ An Chung có mặt ngay từ ngày đầu thành lập Nhà xuất bản Mỹ thuật - Âm nhạc (năm 1957). Đ ...

Đêm đêm tiếng cú…

...Hóc Hiếu có địa thế khá hiểm. Đây là cái hóc nằm kẹp giữa Dương Cháy phía tây bắc với Đồi Vườn Ca ...

Mùa hoa gạo

Tháng Ba hoa gạo nở. Tôi lại nhớ về xóm nhỏ ven đê quê nhà nơi tôi lớn lên. Ở đó tôi đã chứng kiến b ...

Nhớ ngày Giỗ Tổ

Câu ca thấm đượm nghĩa tình ấy thể hiện đạo lý truyền thống của người Việt, trải qua bao biến cố thă ...

Tây Nguyên và những ký ức văn chương

Chiến thắng Buôn Ma Thuột tháng 3/1975 đã mở màn thắng lợi cho chiến dịch Tây Nguyên, tạo bước ngoặt ...

Hẹn ngày quyết đấu

​Trong giấc mơ, tôi và Tế cùng đi với chú Kiền đến nơi quyết đấu. Chúng tôi tới sớm ngồi trong quán ...

Con mực ngày xưa

Xe lên đến xóm nhà thương. Mẹ tôi thở phào nhẹ nhỏm ...

Phù sa châu thổ

​Sân bay quốc tế Seattle- Tacoma ở Seattle thuộc tiểu bang Washington ...

Nghi án bảy trăm năm

Dân làng Hoạch Trạch bỗng phát hiện ra một ngôi mộ cổ bị chôn vùi dưới lớp đất sâu khi họ đào con kê ...

Hoa của mỗi cây

Bà Tám lại đánh con Lựu gần gãy chân. Yến ôm Lựu chạy một mạch trong đêm tìm hiệu thú y. Con Lựu ngừ ...

Trả lại cho thiên

Đi rồi anh lại nghĩ, biết đâu anh bạn giáo sư người Trung Quốc kia vui thì vui, nhưng anh ấy cũng ng ...

Niềm vui từ “Nghị quyết 3 nhiều”

Cũng như lần đến cách đây 5 năm về trước, lần này đến Phúc Sen người đầu tiên tôi tìm gặp vẫn là ông ...