Bà Nhìu


Cơm trưa xong, tôi ra đầu ngõ ngồi dưới tán cây vú sữa - nơi cậu em tôi đặt bộ bàn ghế đá uống trà, vừa ngắm nhìn hồ Thơ, vừa hóng gió. Trời đã chớm thu nhưng nắng vẫn còn gay gắt. Sầu riêng đã bắt đầu chín rộ. Không chịu nổi với mùi thơm nồng hắc của loại quả đầy gai nhọn ấy, tôi di tản ra ngõ. Ở phố lâu ngày mới về quê đúng vào mùa thu hoạch “trái cây cao cấp”, tôi bị dị ứng với cái mùi ai cũng hít hà khen nức nở. Có mấy người hàng xóm ngồi chơi nơi bộ bàn ghế đá. Cụ bà Quý đã ngoài trăm tuổi, nhà kế bên trái. Già hú hươm nhưng bà cụ vẫn còn mạnh khỏe, mắt tinh tai thính, đầu óc minh mẫn, đi đứng vững vàng, chẳng cần đến gậy. Bà Ba Thi ngót nghét sáu mươi, nhà kế bên phải. Và thằng cu Bi - cháu nội bà Ba Thi, cứ bú cơm trong miệng và chạy vòng quanh bộ bàn ghế đá. Bực mình, bà Ba Thi dọa: “Mày không ăn, lát nữa bà Nhìu tới bắt nuôi ráng chịu!”. Thằng bé khựng lại, vẻ mặt đầy lo lắng. Hắn vội nuốt miếng cơm trong miệng rồi ngoác mồm cho bà Ba Thi đút muỗng cơm mới.

Tôi cũng sững người. Bà Nhìu? Có phải bà Nhìu mà mẹ tôi thường kể cho tôi nghe khi còn bé tí? “Chị nói bà Nhìu nào vậy?”. Tò mò tôi hỏi. “Thì bà Nhìu hồi xửa hồi xưa, nuôi con ốc bươu khổng lồ trong cái mo cau, mọi người hay đem ra dọa mấy đứa trẻ không chịu ăn, cứ bú cơm trong miệng…”. Bà Ba Thi cười nói. Tôi hỏi bà cụ Quý: “Bà Nhìu có thực hay chỉ là chuyện hoang đường, thưa cụ?”. Đưa bàn tay trái khô gầy lấy ngón trỏ và ngón cái tém nước cốt trầu nhễu ra nơi khóe mép, bà cụ Quý cười bảo: “Bà Nhìu lớn hơn bà độ một giáp, người làng Vạn Xứ. Nếu còn sống đến giờ, chắc bà ấy cũng trên dưới một trăm mười lăm tuổi”. Tôi tròn mắt ngạc nhiên. Hóa ra, bà Nhìu là nhân vật có thật mà mẹ tôi thường kể. Ký ức tuổi thơ chợt ùa về trong tâm trí tôi. Hồi nhỏ tôi cũng có tật hay bú cơm như thằng cu Bi, mẹ tôi bực, đem bà Nhìu ra dọa. Tôi sợ, nuốt liền. Và tôi bắt mẹ tôi kể chuyện bà Nhìu mới chịu há miệng ăn miếng cơm khác. Chừ tóc trên đầu đã chớm bạc nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ… Theo mô tả của mẹ tôi, bà Nhìu là người đàn bà điên song hiền lành, không phá phách. Đầu đội cái nón mê rách, nách kẹp chiếc mo cau quấn mảnh vải điều, bà Nhìu đi từ xóm này qua làng nọ xin nước cơm vo cho đứa con bé bỏng. Đó là con ốc bươu to như cái nắm tay, có vỏ màu vàng ánh xanh, được bà hết mực nâng niu trong chiếc mo cau…

Sau này lớn lên, tôi đinh ninh đấy là chuyện hoang đường mà người lớn bịa ra để hù dọa trẻ con. Không ngờ bà cụ Quý lại xác nhận bà Nhìu là nhân vật có thật ở làng Vạn Xứ. Tôi thầm nhủ sẽ hỏi bà cụ Quý cho rõ ngọn ngành mọi chuyện. Bây giờ không tiện. Bởi trời trưa nắng chang chang, không khí oi nồng ngột ngạt, “hành hạ” bà cụ là điều không nên.

*

Trăng lên. Ánh bạc từ cao xanh rắc đầy vuông sân nhỏ. Và ngọn gió heo may thổi lao xao khắp nơi xua tan nóng bức. Ngồi trước hiên nhà, bà cụ Quý vừa bỏm bẻm nhai trầu, vừa kể chuyện bà Nhìu cho tôi nghe. Ngày ấy, cách đây cả trăm năm, khi bà cụ Quý còn bé tý lẽo đẽo theo mẹ ra đồng Cây Da ở trước ngõ nhà, ngồi trên tảng đá đen to rộng, xem mọi người làm cỏ lúa thì bà Nhìu là một thôn nữ xinh đẹp nhất làng. Hàm răng bắp nếp đều tăm tắp nhuộm đen nhánh, lúc cười ngó y hệt những hạt na. Mái tóc dài búi sau gáy để lộ chiếc cổ thanh mảnh trông như cái ngó sen. Dáng người thắt đáy lưng ong. Chị Nhìu sục bùn làm cỏ lúa bắt được con cua đồng to bằng ngón chân cái người lớn, lấy dây chỉ thơm buộc càng cho bé Quý làm trâu dắt chơi. Chị Nhìu không những đẹp người đẹp nết mà còn có biệt tài ứng khẩu hát đối đáp rất hay với ý tứ chua cay thâm thúy. Mùa cấy gặt, trai làng Vạn Xứ chọc ghẹo chị Nhìu, cất giọng “hò… ơ…” một chặp đành chịu tịt ngòi vì cô thôn nữ ứng khẩu đối đáp tài tình, đẩy bọn họ lâm vào thế bí. “Chắc chị Nhìu được học hành nên mới giỏi giang như thế, thưa cụ?”. Tôi hỏi. Bà cụ Quý cười hiền: “Hồi đó, cả làng cả tổng không có mấy người được học chữ thánh hiền. Phận gái lại càng không. Chị Nhìu thông minh sáng dạ, bắt chước bà cụ Miết ứng khẩu những câu đối đáp có vần có vè hợp cảnh hợp tình nên mới khiến đám trai làng á khẩu”.

Câu chuyện được bà cụ Quý tiếp tục bằng giọng trầm đều. Chị Nhìu mồ côi cha từ nhỏ. Người mẹ trẻ không tái giá, ở vậy tần tảo nuôi con. Nhà nghèo. Ruộng nương chẳng có. Hai mẹ con làm thuê làm mướn kiếm sống. Lúc nông nhàn, họ mò cua bắt ốc nơi sông suối đổi gạo để có cái ăn qua ngày. Hồi ấy, ai cũng đói khổ do sưu cao thuế nặng nhiều vô kể. Nghe bà cụ Miết ngâm nga bài ca về các loại thuế, cô bé Quý nhẩm theo và nhớ nhập tâm đến giờ.

“…Thuế chó cũi, thuế heo bò

Thuế diêm, thuế rượu, thuế đò, thuế xe

Thuế các chợ, thuế chè, thuế thuốc

Thuế môn bài, thuế nước, thuế đèn

Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền

Thuế rừng tre gỗ, thuế thuyền bán buôn

Thuế gò, thuế bãi, thuế cồn

Thuế người chức sắc, thuế con hát đàn

Thuế dầu mật, thuế đàn đĩ thõa

Thuế gạo rau, thuế lúa, thuế bông

Thuế tơ, thuế sắt, thuế đồng

Thuế chim, thuế cá khắp trong lưỡng kỳ…”([1]).

Bà cụ Quý đọc cho tôi nghe một trích đoạn của bài ca về các loại thuế dưới thời Pháp thuộc.

- Cuộc đời chị Nhìu sẽ không rẽ lối oan nghiệt, nếu ngày đó làng Vạn Xứ không mở hội tế thu - Bà cụ Quý chép miệng nói.

- Hội hè thì có liên quan gì, thưa cụ? - Tôi ngạc nhiên hỏi.

- Chao ôi, có đấy!

Rồi bà cụ tiếp tục câu chuyện dở dang… Năm ấy, làng Vạn Xứ mở hội tế thu. Lúc bấy giờ cô bé Quý cũng đã lên chín, lên mười, người làng kháo chuyện chịu Nhìu, cô bé nghe và nhớ mãi. Kéo dài hai ngày ba đêm nhưng “phần lễ” chỉ gói gọn trong buổi sáng ngày đầu tiên, thời gian còn lại là “phần hội” với sự tham gia của gái trai, già trẻ, lớn bé… Hát bội. Hát huê tình. Hò giã gạo. Hát hò khoan đối đáp… Sân định Vạn Xứ ngày đêm chật ních người. Cùng với các thôn nữ khác có nhan nhắc mặn mà, chị Nhìu được chọn làm công việc phục dịch các vị chức sắc trong làng trong tổng: Mời trầu, mời thuốc, chuốc rượu… Thấy chị Nhìu đẹp người đẹp nết, nói năng dịu dàng, lão Chánh tổng An Bình Sơn nảy sinh tà ý, rắp tâm hãm hại đời chị. Đám hương lý trong làng ngầm ủng hộ, bày trò ép chị uống rượu say để lão Chánh tổng cưỡng bức chị. Mầm họa khởi đầu từ đấy. Mấy tháng sau, chị Nhìu có biểu hiện biếng ăn, hay ói mửa, lại thèm chua. Rồi bụng chị ngày càng phình to, vạt áo nâu không che giấu nổi. Người mẹ khốn khổ gặn hỏi con gái, biết được sự thật phũ phàng, bà lặng lẽ khóc. Mai mốt đây bị làng nước tróc nã bằng đòn roi, con gái bà khai ra tất cả, không khéo lại mắc thêm cái tội vu oan giá họa cho quan trên…

Chuyện phải đến rồi cũng đến. Việc chị Nhìu không chồng mà chửa nhanh chóng lan ra theo miệng lưỡi người đời. Các bà nạ dòng không ngớt lời đàm tiếu dị nghị. Chị em cùng trang lứa cũng xôn xao bàn tán. Làng nước quyết không bỏ qua, bởi thời ấy, gái không chồng mà chửa là chuyện tày trời, nó làm ô danh dòng họ, ô nhục xóm mạc. Đám hương lý cho tuần đinh bắt chị Nhìu dẫn giải tới sân đình Vạn Xứ tra hỏi chị ăn nằm với ai mà có thai trong bụng? Bọn họ là những kẻ giăng bẫy để chị Nhìu sập bẫy nhằm lấy lòng quan trên nhưng lệ làng buộc bọn họ phải giả vờ đóng kịch. Không chịu nổi đòn roi và sự truy vấn của đám chức sắc làng Vạn Xứ, chị Nhìu vừa mở mồm đã bị bọn họ giở trò “cả vú lấp miệng em”, vội áp dụng ngay hình phạt hà khắc. Đám chức sắc bắt chị Nhìu đeo gông để gọt đầu bôi vôi rồi cho tuần đinh dẫn giải đi bêu riếu khắp làng trên xóm dưới. Người lớn đứng trước cửa nhà nhìn theo chị Nhiều, cố nén tiếng thở dài xót xa cho thân phận đàn bà “khôn ba năm, dại một giờ”. Cô bé Quý cùng bọn trẻ con trong làng rồng rắn đi theo chị Nhìu vì tò mò. Cô bé Quý ngày ấy, bà cụ Quý bây giờ, vẫn nhớ mãi hình ảnh chị Nhìu khi bị làm nhục giữa thanh thiên bạch nhật: Đầu tóc bị cạo trọc lóc, bôi vôi trắng xóa, chiếc gông gỗ vừa ngoàm cổ vừa ngoàm cả hai tay, tuần đinh lấy sợi dây thừng buộc vào đấy dong đi...

“Quỵ ngã vì đòn trừng phạt theo lệ làng, mẹ con chị Nhìu toan tự vẫn để tránh tiếng thị phi. Cũng may, bà cụ Miết đoán biết được điều đó, lọ mọ tới nhà khuyên can, an ủi họ. Ở đời, không chồng mà chửa mới ngoan, có chồng mà chửa thế gian chuyện thường. Bà cụ Miết bảo vậy. Từ đấy, họ mới thôi nghĩ quẩn”. Bà cụ Quý tiếp tục câu chuyện với tôi sau một hồi ngồi bất động trước hiên nhà. Người ta nói họa vô đơn chí quả không sai! Chị Nhìu bị trụy thai vì đánh đập, vì bấn loạn tinh thần, vì lo lắng không biết lấy tiền đâu nộp phạt theo lệ làng. Hoàn cảnh hai mẹ con chị thật đáng thương nhưng đám hương lý vẫn không chịu buông tha. Bị đẩy ra rìa làng, hai mẹ con chị sống trong túp lều tranh tạm bợ ở ven đồi mồ côi do bà con xóm mạc chung tay làm giúp. Rồi chị Nhìu lăn ra ốm một trận thập tử nhất sinh. Thương tình, ông thầy Tám cắt cho mấy chục thang thuốc bắc không lấy tiền, nhờ thế, chị Nhìu mới qua cơn bạo bệnh. Cố gắng gượng lên để tồn tại với đời nhưng ông trời lại không có mắt, bắt chị Nhìu phải gánh chịu bao khổ đau, bất hạnh. Mùa đông năm ấy, trời mưa phùn, rét lạnh căm căm. Người mẹ nghèo khó đi mò cua bắt ốc ngoài đồng, không may bị trúng gió, qua đời. Người làng phát hiện khi bà đã trở thành cái xác gầy đét, còng queo, cứng đờ, nằm úp sấp trên bờ ruộng…

Buông tiếng thở dài, bà cụ Quý lại nhìn ra khoảng sân hơi tối bởi mảnh trăng non đã chếch về tây. “Chắc cụ đã mệt?”. Tôi hỏi. Bà cụ Quý cười: “Già hung rồi, ngồi lâu cũng mỏi lưng. Chú vẫn còn ở quê chưa về phố, ưng nghe chuyện bà Nhìu, tối mai đến đây bà kể tiếp cho nghe…”. Tôi gật đầu: “Dạ vâng! Nhất định cháu sẽ đến…”.

*

Đêm yên ả. Hồ Thơ tĩnh lặng. Mặt nước bốc hơi dưới ánh trăng mờ ảo trông như khói sóng. Vẫn còn sớm, mới hơn tám giờ tối. Gió heo may thổi nhẹ. Không khí mát mẻ. Tôi lặng lẽ lót dép ngồi trên phiến đá sẫm nâu bên bờ hồ nhìn ngắm cảnh quê, ký ức tuổi thơ bất chợt ùa về. Hồi bé, tôi là đứa trẻ ốm o gầy còm vì biếng ăn. Em tôi - thằng cu Đen, mới vài ba tuổi đã bộc lộ tính tự lập, đến bữa, bưng chén cơm chan canh hay trộn cá, cầm muổng xúc ăn ngon lành. Khi xơi no cành hông, hắn ra lu nước đặt ở chái hè sau bếp, lấy gáo dừa múc nước lã tu một hơi rồi co cẳng chạy đi chơi. Ăn khỏe nên hắn mập mạp, phốp pháp. Còn tôi đã năm, sáu tuổi đầu nhưng có tật bú cơm trong miệng hoài khiến mẹ tôi phát ngán! Ngày ba bữa sáng - trưa - tối, mẹ tôi phải dỗ dành mớm đút cả tiếng đồng hồ, tôi mới ăn xong hai lưng cơm, dồn lại chỉ hơn một chén đầy. Tôi vẫn còn nhớ mãi, mỗi khi mớm đút đút cho tôi ăn, mẹ thường bảo: “Nhai nuốt nhanh lên! Nếu không, bà Nhìu tới bắt gói trong tấm vải điều mang đi, ráng chịu!”. Không biết bà Nhìu là ai, tấm vải điều màu sắc như thế nào, song tôi cũng vội nuốt miếng cơm trong miệng. Vừa lo sợ, vừa tò mò, tôi hỏi: “Bà Nhìu thích bắt trẻ con hả mẹ?”. “Ừ! Bà ấy chỉ ưa đứa nào hay bú cơm thôi!”.

Theo lời mẹ tôi, bà Nhìu xuất hiện với hai dáng vẻ khác nhau. Trẻ hư, bà Nhìu tới với bề ngoài như mụ phù thủy trong chuyện cổ tích mà bà nội thường hay kể cho mấy anh em tôi nghe. Đầu đội chiếc nón mê che mái tóc rối bù như tổ quạ. Trên người khoác bộ quần áo màu khói nhang rộng thùng thình với nhiều mảnh vá to nhỏ khác nhau. Chân đi dép mo cau có quai bện bằng bẹ chuối héo. Vai trái đeo tay nải. Nách phải kẹp tấm vải điều gói con ốc bươu to bự chảng như nắm tay người lớn ở bên trong. “Trẻ hư hay trẻ có tật bú cơm, bà ấy lấy tấm vải điều gói lại mang về nhà nuôi”. Mẹ tôi bảo. “Thế trẻ ngoan thì sao, hả mẹ?”. Tôi nuốt ực miếng cơm ngậm trong miệng, hỏi. “Thì bà ấy không đến, nếu có đến cũng với bộ dạng khác!”. Mẹ tôi cười. Rồi mẹ tôi cho hay, đấy là cô Nhìu tươi xinh chứ không phải là bà Nhìu gớm ghiếc. Mái tóc đen dài xõa kín bờ vai. Gương mặt trái xoan khả ái. Đôi môi đỏ thắm, khi cười để lộ hàm răng bắp nếp đen tuyền như những hạt na. Chỉ cặp mắt lúc nào cũng ẩn chứa nỗi u buồn khó gọi thành tên. Chính vì buồn nên cô Nhìu thường hát những làn điệu dân ca khiến trẻ con ngồi nghe rồi ngủ lúc nào không hay… “Thằng Cúc đẹt của mẹ thích gặp bà Nhìu hay cô Nhìu?”. Mẹ tôi cười hỏi. Tôi im lặng phân vân. “Bà Nhìu hay cô Nhìu con đều sợ…”. Tôi nói. “Sợ thì con đừng bú cơm nữa! Đến bữa, con ăn ngoan như thằng cu Đen mới chóng lớn được”. Mẹ dỗ dành.

Thời gian trôi nhanh quá! Mới đó mà tôi đã hai thứ tóc trên đầu. Mẹ tôi cũng đã nối gót ba tôi về với ông bà tổ tiên. Đêm ở quê yên tĩnh. Mảnh trăng non nghiêng hẳn xuống trời tây, mặt hồ thơ khói sóng dâng đầy. Đâu đấy có tiếng chim từ quy khắc khoải gọi bầy. Tôi đứng dậy lững thững về nhà cậu em trai út.   

*

- Tối qua, bà kể đến đâu rồi?

- Dạ! Tới đoạn mẹ chị Nhìu trúng gió qua đời, thưa cụ.

- Ừ nhỉ! Cái số chị Nhìu quả lao đao lận đận…

Vẫn bằng giọng trầm đều, bà cụ Quý ngồi trước hiên nhà kể cho tôi nghe câu chuyện đang còn dang dở. Mất chỗ dựa duy nhất, chị Nhìu hóa đơn côi, sống thui thủi một thân một mình nơi rìa làng. Bà con xóm mạc muốn cưu mang giúp đỡ chị nhưng lại e sợ đám hương lý kiếm cớ gây khó dễ, vì thế, họ buộc lòng phải xa lánh tránh trớ chị. Không có ruộng nương vườn tược cấy cày làm ăn, chị sống hoàn toàn phụ thuộc vào của rơi vãi ngoài đồng. Đến mùa khoai, xách rổ đi mót khoai. Đến mùa lúa, đeo bị đi mót lúa. Rồi bắt cua cá nơi sông suối, hái rau rừng nơi bìa rừng độ nhật vào thời điểm gạo tháng giêng tiền tháng chạp. Khốn khó trăm bề. Còn trẻ khỏe nên quanh năm suốt tháng chị chẳng bao giờ đau ốm. Cơm rau kham khổ đạm bạc hằng ngày nhưng chị vẫn đỏ da thắm thịt, tươi xinh rạng rỡ. Đúng là gái một con ngó mòn con mắt. Rất nhiều trai làng ngắm trộm chị để rồi ra ngẩn vào ngơ. Bọn họ không dám bước qua đất lề quê thói, không dám gạt bỏ điều tiếng thị phi, chỉ nén tiếng thở dài “tiếc bông hoa lài cắm bãi cứt trâu”. Bất hạnh lại ập xuống đầu chị khi lão trùm kiểm thường hay qua lại quả đồi mồ côi để kiểm tra rừng. Không ít lần lão đứng nấp bên lùm cây nhìn chị lom khom dọn dẹp trước sân, mỉm cười bí hiểm. Lão để ý và rắp tâm chiếm đoạt thân xác chị khi có cơ hội.

Một buổi chiều cuối xuân, lão trùm kiểm giở trò thú tính với chị Nhìu. Trời chập choạng tối, nơi trú nắng tránh mưa của chị lại cách xa xóm mạc, chị kêu cứu nhưng chẳng ai nghe thấy. Không thể chống lại gã đàn ông tứ tuần to khỏe như vâm, chị đành bất lực nhắm mắt buông xuôi, mặc cho tên vô lại dày vò thân xác. Mầm họa của sự cưỡng bức lại hình thành. Bụng chị Nhìu nhanh chóng phình to. Dân làng dị nghị. Đám hương lý sai tuần đinh bắt chị lên sân đình Vạn Xứ tra hỏi. Chị thuật lại mọi chuyện. Vợ lão trùm kiểm vừa nhảy loi choi vừa xỉa xói chị vu oan giá họa cho chồng thị. Đám hương lý đưa mắt nhìn trùm kiểm, lão vội cúi gằm mặt. Sau đó, lão lại gần bọn họ nhỏ to điều gì đó. Bọn họ khẽ mỉm cười. Rồi lý trưởng thay mặt đám chức sắc làng Vạn Xứ tuyên bố thủ phạm làm bụng chị Nhìu phình to chưa xác định được danh tính nhưng việc xử phạt phải thực thi để làm gương cho kẻ khác. Chị Nhìu lại bị gọt đầu bôi vôi, mang gông cho tuần đinh dong đi bêu riếu khắp làng trên xóm dưới. Người mẹ lành hiền đã về với đất. Mất chỗ dựa duy nhất, những tưởng chị Nhìu quỵ ngã, ai hay chị gượng dậy và trở nên chai lỳ trước những lời gièm pha đàm tiếu. Thời gian là liều thuốc diệu kỳ đã giúp chị nguôi ngoai mọi chuyện để bươn chải, tồn tại với đời.

Cuối tháng chạp năm ấy, không thấy bóng dáng chị Nhìu đâu, người làng ghé tới nơi chị cư ngụ xem sao, mới hay chị lâm bồn sinh được một bé gái đỏ hỏn. Chị một mình vượt cạn, một mình xoay xở lo toan mọi chuyện. Ốm rạc xác ve, chị không đủ sữa cho con bé bú, nó khóc khản hơi, đến nỗi chỉ còn đủ sức oe oe nghe như tiếng mèo ốm kêu trong cổ họng. Bà cụ Miết chống gậy tới nhà chăm sóc hai mẹ con chị. Dân làng cũng kẻ ít người nhiều góp gạo góp khoai đem cho người đàn bà bất hạnh. Nhờ thế, chị qua cơn bĩ cực. “Bà con xóm mạc thấy vậy, ai cũng mừng thầm cho chị. Nào ngờ cái rét Nàng Bân lại tước đoạt con bé khỏi vòng tay yêu thương của chị, khi nó bị nóng sốt rồi lên cơn co giật. Đau đớn vì mất con, chị Nhìu hóa điên từ đấy…”. Bà cụ Quý chép miệng thở dài bảo với tôi. “Chắc chị ấy trở nên hung tợn, xé quần áo, kêu gào, khóc cười như những người điên khác?”. Tò mò, tôi hỏi. “Không! Chị Nhìu hóa điên nhưng hiền lắm…”. Bà cụ Quý nói. Giã xong cối trầu, tôi đưa cho bà cụ rồi nhìn ra sân. Trăng trên trời cao đổ lai láng ánh sáng bàng bạc khắp nơi. Gió heo may thổi nhẹ. Không khí mát mẻ. Vẫn còn sớm. Tôi ngồi im lặng, không dám gặn hỏi gì thêm. Còn bà cụ vừa bỏm bẻm nhai trầu, vừa lục tìm trong ký ức xa xăm về hình ảnh người đàn bà trẻ bị mất con nên loạn trí…

“Chị Nhìu điên nhưng hiền như đất”. Bà cụ Quý khẽ khàng lên tiếng. Chuyện cách đây cũng đã hơn trăm năm rồi song bà cụ vẫn còn nhớ rõ như in. Không biết kiếm tìm ở đâu ra mảnh vải điều, chị Nhìu bọc bên ngoài cái mo cau có con ốc bươu trong đó, ôm ấp trước ngực dỗ dành: “Nín đi! Con gái ngoan của mẹ đừng khóc… Dù khó nhọc thế nào mẹ cũng sớm hôm tần tảo nuôi con khôn lớn thành người. Ừ, con gái ngoan của mẹ, ngủ đi nhé! À ơi…!”. Chị Nhìu đi lang thang vô định hết xóm này qua xóm khác, hết làng nọ tới làng kia. Khắp các nẻo đường quê của tổng An Bình Sơn đều hằn in dấu chân chị. Ai cho gì, chị ăn nấy… Bà cụ Quý lại thở dài, thay đổi tư thế ngồi cho đỡ mỏi lưng. Chừng như bà cụ đã mệt nên tôi khéo léo kết thúc cuộc chuyện trò ra về để bà cụ nghỉ ngơi.

*

Rời nhà bà cụ Quý, tôi lại ra ngồi nơi phiến đá sẫm nâu bên hồ Thơ nhìn ngắm vu vơ. Đáy hồ khi chưa đắp đập là cánh đồng bậc thang rộng mênh mang, có con suối nhỏ uốn lượn sát chân đồi Mù U được phủ xanh bởi sim mua, lau lách. Cách cái thác nước nhỏ một đoạn, có gộp đá đen nhô lên bên bờ suối, nhìn từ xa không khác gì đàn trâu nằm nhai lại. Gộp đá gồm sáu khối đá tách rời nhau. Năm khối hình trụ ngó y hệt năm ông đầu rau khổng lồ được Hóa công sắp xếp thành vòng tròn quanh chiếc bàn đá to rộng như cánh phản. Lúc sinh thời, mẹ tôi bảo đấy là nơi bà Nhìu ngồi hát ru con vào những đêm trăng. Làng quê yên ắng. Tiếng suối reo như tiếng nhạc đệm cho tiếng hát ru con của bà Nhìu thêm ngân nga đầy ma mị. Nó não nùng, ai oán. Nó thê lương, buồn thảm. Nó làm cho dân làng Vạn Xứ phải thao thức nghĩ suy về nhân tình thế thái. Cái điệp khúc “ru hời ru hỡi hời ru…” mà bà Nhìu kéo dài giọng cứ đọng lại day dứt trong lòng người. Mẹ tôi bảo: “Hồi mới về làm dâu nhà họ Thái, mẹ đã không ít lần được được nghe bà Nhìu ngồi hát ru con ở gộp đá đen ấy”. Tôi hỏi: “Bà Nhìu hát như thế nào, hả mẹ?”. Mẹ bảo: “Thì đừng bú cơm nữa, nuốt đi, rồi mẹ hát cho nghe!”. Tôi vội vã vâng lời.

“À ơi!

Có chả anh phụ tình xôi

Có cam phụ quýt, có người phụ ta

Có quán tình phụ cây đa

Ba năm quán đổ, cây đa vẫn còn

Có mực, anh phụ tình son

Có kẻ đẹp giòn, anh phụ nhân duyên

Có bạc anh phụ tình tiền

Có nhân ngãi mới anh quên lời nguyền

À… ơi…”([2]).

Mẹ vừa dứt lời, tôi giậm chân giãy nảy:

- Bà ấy không hát như thế!

Mẹ tôi cười:

- Bà ấy là người thuộc lòng nhiều bài ca dao.

- Mà nào, thằng Cúc đẹt nuốt mau rồi ăn miếng khác. Ừ, giỏi!

“À ơi!

Ru con, con ngủ cho ngoan

Mai sau khôn lớn lo toan việc nhà

Năm canh thì ngủ lấy ba

Hai canh lo việc trong nhà ngổn ngang

Mua cá thì phải móc mang

Đừng đa đoan quá thế gian họ cười…

À… ơi…”([3]).

“Anh ngồi đây không sợ muỗi đốt à? Mà gió thế này làm gì có muỗi…”. Cậu em tôi cười nói làm tôi giật mình rời khỏi dòng ký ức miên man. “Chú xuống đây khi nào?”. Tôi hỏi. “Hướng dẫn con bé Nhỡ học bài xong, không thấy anh đâu, em đoán anh ra bờ hồ Thơ ngồi hóng mát nên mới đi theo”. Cậu em tôi vừa nói vừa lót dép ngồi xuống phiến đá, cạnh tôi. Bầu trời đêm xanh ngắt, hàng triệu vì sao nhấp nháy sáng trên cao. Nhà tôi có sáu anh em trai. Tôi thứ tư. Cậu em tôi thứ út. Rốt cuộc chỉ có cậu em tôi bám trụ ở quê với nghề dạy học, còn lại dạt ra phố thị, mỗi người một nơi. Ngồi bên bờ hồ, hai anh em tôi lại trò chuyện về bà Nhìu. Cậu em tôi bảo, lúc sinh thời, mẹ tôi thường hay nhắc tới bà Nhìu. Mẹ kể, đã có lần mẹ tận mắt trông thấy con ốc bươu có vỏ màu vàng ánh xanh, to như nắm tay người lớn, khi bà Nhìu giở tấm vải điều, mở chiếc mo cau, lấy muỗng múc nước cơm bón đút cho nó. Bà vừa làm vừa cất giọng hát ru khe khẽ. Con ốc bươu to lớn dị thường khiến người ta sợ. Mẹ cũng thế. Nhưng có lẽ do tiếng hát ru của bà Nhìu quá hay, mẹ không thể không lại gần để nghe cho rõ. Vì thế, mẹ mới trông thấy con ốc bươu ấy… Mẹ bảo, bà Nhìu là nhân vật có thật, biệt tăm biệt tích khỏi làng Vạn Xứ từ sau Hiệp định Genève - 1954. Bà Nhìu đi đâu không ai rõ. Rồi bom đạn chiến tranh, dân làng Vạn Xứ cũng tứ tán khắp nơi…

Tôi ngồi bó gối nghĩ về cái thời xa lơ xa lắc của làng Vạn Xứ, về người điên có tên gọi bà Nhìu và câu Kiều của cụ Nguyễn Du: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung…”. Dường như cậu em tôi cũng hiểu được tâm trạng của tôi nên phá tan sự im lặng bằng cách kể chuyện mẹ tôi lúc sinh thời. Rằng, thấy dâu con ăn mặc lùi xùi, mẹ cười bảo: “Trông lôi thôi lếch thếch ngó y hệt bà Nhìu”. Rằng, nghe mấy thôn nữ đi làm đồng về hát nghêu ngao, mẹ nói: “Cô gái nào nào có giọng hát mượt mà sâu lắng chẳng khác chi giọng hát bà Nhìu”. Mà không riêng gì mẹ tôi, những người già ở cái xóm nhỏ quanh hồ Thơ cũng thường hay so sánh như vậy. Bây giờ, theo thời gian và theo quy luật của lẽ tự nhiên, những người già đã lần lượt về với ông bà tổ tiên, chuyện bà Nhìu ít còn ai nhắc tới.

 


[1]) Trích bài “Á tế á ca” của Phan Bội Châu.

[2]) Trích “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan.

[3]) Trích “Văn học dân gian huyện Tiên Phước” của Nguyễn Văn Bổn biên soạn.

Nguồn Văn nghệ số 40/2018

Tin liên quan

Chuyện về những người lính

Gần bốn mươi năm qua đi, ngồi nghe ông Hòa (xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì) hào hứng kể và đặc biệt với câ ...

Xuân về chợt nhớ thu sang

Có hai mùa đẹp nhất trong năm: mùa xuân và mùa thu. Nếu mùa xuân rạo rực lòng người với sự sinh nở c ...

Nỗi người lãng mạn

Về cơ quan chưa lâu, tôi được sếp tin tưởng giao cho trách nhiệm dẫn đầu một nhóm kỹ sư và công nhân ...

Người cận vệ của vua Hàm Nghi

Một người dưới xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của r ...

Phúc phần

Ở giữa bãi sông Hồng, nhô lên một bãi cát, những năm trước người ta còn trồng hoa màu những mấy năm ...

Cõi hoa

Cái đẹp khiến đời sống thêm phần hứng khởi, tô điểm sắc hương cho trạng thái tinh thần, quyết định t ...

Thương những mùa trăng

Buổi chiều, trên đường đi làm về, tôi tạt vào cái chợ cóc gần nhà mua cho bố mấy chục quả na chín. M ...

Cầu vào xóm Hạ

​Làng Phù Lưu nằm giữa hai bên con suối lớn có tên là suối Lam Khê. Dân cư làng Phù Lưu khai hoang l ...

Gió Trảng phình

Con cầy cun nhảy từ cây lội xuống bụi rậm bên đường làm Tiếp giật mình. Anh nhảy vội xuống xe, lấy k ...

Từ “Đào Mai Trang” đến hồn quê hồn lụa

Con sông Tân Giang (sông Cụt) phía Nam thành phố Hà Tĩnh mềm mại như một dải lụa uốn lượn có những c ...

Với Hà Nội mùa xuân

Với Hà Nội, từ mảnh đất cuối cùng của tổ quốc Việt Nam, dù hiếm khi được về thăm cội nguồn đất mẹ nh ...

Gạo trắng nước trong

Hùng Trần. Tưởng hắn họ Trần tên Hùng nên vỉa hè gọi vậy. Mới hay rằng đời sống rất nhiều điều thấy ...