“Ánh sáng của quá nhiều bóng đen”


 

“Những con thuyền trỗi dậy

 Từ đáy đại dương

Những con thuyền

Cập những bến cảng thiên đường”

Víctor Rodríguez Núñez

Dù được báo trước bằng tiêu đề sách khá lạ lẫm và có phần khiêu khích “nghịch đảo”, nhưng tôi vẫn không tránh khỏi ngạc nhiên, hoang mang khi đọc tập thơ của nhà thơ Cuba Víctor Rodríguez Núñez. Thơ ông bày đặt trước mắt tôi một thế giới hỗn mang, đổ vỡ, đảo lộn. Từ nơi tro tàn tăm tối ấy, tôi được nhìn thấy ánh sáng, hay đúng hơn, thấy ánh xạ của những tương phản, khổ đau và hy vọng, hòa nhập và vong thân, nụ cười và những giọt nước mắt, Tổ quốc và thân phận lưu vong, bạo lực và nhân tính…

“Và không có ánh sáng nào chạm tới bóng tối/ Ánh sáng của quá nhiều bóng đen”.

Câu thơ ấy trong bài “Những phút nửa đêm/ Mười một” trong tập thơ “nghịch đảo” đã biểu đạt trọn vẹn căn cốt, tinh thần thơ Víctor Rodríguez Núñez. Bóng tối và ánh sáng ở đây dường như không có biên giới, vừa vô hình vừa hữu hình, nhào trộn, xung đột, xâm lấn nhau. Đó là bức tranh tổng thể của đời sống đương thời, một cuộc chiến, cả quá khứ vừa khép lại; không, một tương lai thế giới viễn vọng. Câu thơ trên cho thấy, bóng tối và ánh sáng là hiện thân của Thiện và Ác, Thiên đàng và Địa ngục. Đặc tả của nhà thơ cho ta cảm nhận chúng không phải vật thể rắn, mà tan loãng như không khí, chuyển động như gió, lỏng như những chất dung dịch, sẵn sàng pha trộn, nhuộm đen hoặc làm phai màu; tựa mưu mô và giảo hoạt, tinh ranh và tàn bạo trong cõi con người.

Thơ Víctor Rodríguez Núñez cho thấy, bản thân những hình tướng, hạt nhân của vạn vật không bị đập vỡ hoặc bóp méo, mà chúng vẫn được giữ nguyên, sắp đặt theo quy luật của riêng ông, phi lý nhưng đầy bất ngờ. Dưới con mắt của Víctor, những đường chân trời trở nên khô giòn và nứt vỡ, dòng nước hóa thành vật liệu cứng bị mài mòn đi, “Trà Digan đun sôi/ Trên đống lửa đôi mắt của chú chim hồng tước/ Làm tổ trong chiếc bàn” (Sự trở lại hay chú nhện cầm giữ một thắc mắc). Hay, chúng ta hãy lắng nghe một ý thức tự kỷ ám thị của ông trong bài thơ “Những phút nửa đêm/ Mười ba”: “Chúng ta đều được làm từ duy nhất một ngôi sao”!

Nối thông các sự vật, hiện tượng trong thơ Víctor Rodríguez Núñez là tầng khí hậu khác lạ luôn phủ ngập, xâm chiếm trọn vẹn không gian. Sự “xâm chiếm” ấy đã cho bạn đọc cảm nhận như có kẻ tàng hình tài ba đi xuyên qua bề mặt, lớp vỏ các vật thể và phi vật thể trong đời sống này. Trong bài thơ “Những phút nửa đêm/ Mười ba”, nhân vật “đêm tối” đã hóa thân thành chính bản thể nhà thơ, cho ông được gọi đích danh chúng, được tự do bóc tách, soi chiếu chúng trước mắt bạn đọc: “Bóng đêm thuận tay trái/ Không có giá trị trao đổi”, hay “Màn đêm là tế bào tôi, hạt nhân của tôi”.

Trong tập thơ “nghịch đảo”, tác giả gọi tên “bóng tối” nhiều hơn “ánh sáng”. Phải chăng cũng là gam màu tối chủ đạo của bức tranh thế giới đương thời. Trong văn bản tiếng Việt của tập thơ có 128 lần nhà thơ nhắc tới bóng đêm; tiếng Anh có 169 từ “đêm”, “bóng đêm”, hoặc mang hàm nghĩa bóng tối. Tổng hợp này chỉ mang tính tương đối, vì tập thơ được dịch giả tài ba Katherine M. Hedeen dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha sang tiếng Anh.

Bóng đêm của Víctor Rodríguez Núñez không chỉ mang tính tư tưởng, mà còn biểu lộ chính kiến, quan niệm thẩm mĩ. Ông bày tỏ thẳng thắn và bộc trực bằng những câu thơ mang hàm nghĩa như: bóng đêm miễn phí, bóng đêm không biên giới, không rời đi, bóng đêm không ở lại, không bị kiểm duyệt. “Màn đêm không phải nô lệ/ Trượt dài trong những buổi gặp mặt/ Màn đêm không giả nhân giả nghĩa” (Những phút nửa đêm/ Mười ba). Bóng đêm của ông mang tính dân chủ, được tự do báo chí, tự do ngôn luận... Bóng đêm không chịu phục tùng, bóng đêm nổi loạn, bóng đêm bất đồng chính kiến v.v. Và ông khẳng định “Không ai có thể phá vỡ bóng đêm”.

Ông có bốn bài thơ viết về thời khắc đặc biệt của đêm, đó là “Những phút nửa đêm”, được ghi theo thứ tự: Một, Bốn, Mười một và Mười ba. Trong bài thơ “Những phút nửa đêm/ Mười một”, ông vận dụng thủ pháp tượng trưng và siêu thực kết hợp với ngôn ngữ hiện đại để khám phá tận cùng bản chất sự vật. Vẫn cái nhìn vũ trụ là nhất thể, thiêng liêng, sâu thẳm và vô tận, nhưng với cách sắp xếp hình ảnh cho thấy, thế giới thơ của Víctor đã được nhào trộn, hoán chuyển và luôn bình đẳng. Ở đây ta gặp lại con người “tàng hình”, như đã nói ở trên, giúp bạn đọc nhìn thấu suốt vạn vật, tự do trò chuyện với những linh hồn của sự vật. “Thứ gì đó vỡ ra thành bài hát/ Trong khu vực đánh mất bởi bóng đêm” (Những phút nửa đêm/ Mười một). Hoặc “Tôi là lớp sáng/ Của không có gì được cháy”. Những câu thơ tuyệt đẹp, kỳ lạ cho thấy Víctor Rodríguez Núñez đã thấu thị cả những cảm giác mơ hồ, hư vô, thậm chí thoảng qua. Trong những tình huống này, nhà thơ đã xuất hiện tựa một vị chúa tể trong vương quốc của ông: “Tôi ở khắp nơi/ Cơn lốc của ánh sáng”.

Trong cả bốn bài thơ viết về “Những phút nửa đêm”, Víctor như đã chọn những vị trí khác nhau trong không gian thơ của để khoan xuống tìm mạch nước ngầm. Trong một thế giới đa cực, khó phân định, người đọc cảm nhận được nguồn nước mát lành từ lòng đất sâu phun lên làm ấm mềm mặt đất khô cằn. Dòng nước ấy xóa đi nhiều bất trắc, kết nối con người với nhau, con người với vạn vật, vũ trụ. “Màn đêm và bạn không thể tràn ra được/ Bị róc trần trong ánh sáng” (Những phút nửa đêm/ Bốn).

“Bóng tối đun sôi/ Có những vết bùn/ Của bạn ở khắp nơi/ Màn khói dày này trong cơn khát/ Sự sáng chói ẩm thấp/ Ngọn lửa để đến/ Hầu hết các mùi hương này/ Của ánh bình minh oi ả” (Những phút nửa đêm/ Một). Ngoài những “mũi khoan” sâu lúc nửa đêm như vừa nói, nhà thơ còn vẽ ra rất nhiều bóng tối/ đen/ đêm với muôn hình dạng. “Ngay cả bóng tối của một giọt nước mắt” (Người đội trưởng). Bóng tối luôn lẩn khuất, xâm lấn mọi ngóc ngách tinh thần và đời sống con người, hủy diệt nhân cách và nhân tính: “Sau tất cả tôi là/ Một bóng ma trong hiệu cắt tóc/ Những tấm gương bị bóng tối ăn mòn” (Khởi nguyên); “Tại sao bỏ lại đằng sau bóng tối này/ Vô số quần chúng vã mồ hôi/ Với những giấc mơ bị bủa vây bởi đàn muỗi?” (Bảo vệ).

Bóng tối trong thơ Víctor Rodríguez Núñez thường bị nén chặt, dồn tụ, tựa ngọn lửa thiêu đốt nơi Địa ngục. Chúng cũng giống như một cây cung đang kéo căng đợi thời khắc buông dây cho mũi tên lao đi. Nhà thơ sử dụng ánh sáng như một cứu cánh, một giải pháp, chìa khóa vạn năng để mở cửa những ngôi nhà kín bưng, là mục đích đi tới. “Giờ xuất hiện đường chân trời/ Tôi có thể nghe thấy ánh sáng của nó” (Thung lũng sông Ohio); “Và bạn sẽ đến được kịp cho một ngày/ Trong ánh sáng mờ của thư viện”; “Và ánh sáng chồng chất sự kinh hoàng” (Đôi mắt bị đánh cắp từ bầu trời).

                 ***

Có lẽ ở bất kỳ quốc gia nào, hành trình con người hướng tới tự do, dân chủ và bình đẳng luôn là con đường gian nan, thử thách khắc nghiệt nhất; và có thể, những người tiên phong muốn đạt được mục đích ấy phải đi qua những chiếc cổng lửa, trả bằng máu và nước mắt. Đó là cái giá mà những người yêu chuộng hòa bình phải trả để đổi lấy cuộc sống công bằng, hạnh phúc.

Cuộc sống là những điều bình dị như mái ấm gia đình, một bông hoa chớm nở, một tách trà nóng vừa pha… Tất cả như đang thắp lên những ngọn lửa ấm áp trong thơ Víctor Rodríguez Núñez. Chúng tỏa sáng chậm chạp, e dè, nhưng nhiệt lượng và trữ lượng của nó thật lớn lao, mạnh mẽ: “Tôi đổ ra hơi ấm áp vàng rực/ Thấy vị trí của những gì còn ở bên trong/ Dưới ánh trăng êm đềm vắng lặng/ Những bông tu-lip ẩn trong khói mờ/ Nở rộ trong màn tuyết chới với/ Sẽ không hề có quãng nghỉ ngơi/ Bình minh bén rễ…/ Ngọn lửa hướng dương cam chịu/ Từ bùng cháy của mùa thu/ Ngọn lửa đượm hồng/ Trong ánh bình minh non nớt” (Sự minh mẫn hay bạn là giông tố trong ấm trà).

Những ngọn lửa mà Víctor Rodríguez Núñez thắp lên tỏa sáng cho mọi quốc gia, mọi dân tộc, nhưng ngọn lửa chói sáng nhất luôn hướng về Tổ quốc Cu-Ba thân yêu của ông. “Tất cả hướng về Cuba khi bóng đêm đổ xuống” (Những phút nửa đêm/ Mười ba). Trong “nghịch đảo”, nhà thơ đã nhiều lần xướng danh đất nước Cuba. Những hình ảnh thân thương, gần gũi thường xuyên xuất hiện trong cảm xúc của ông. Đó là những con phố, dòng sông, tên một loại nhạc cụ, một thể loại thơ, một loại rượu ngon đặc trưng quê hương ông. Vang động hơn nữa là những giai điệu, điệu nhảy truyền thống sôi động với trang phục màu sắc rực rỡ…

Điều đặc biệt làm tôi cảm động, Víctor đã dành những bài thơ chứa chan cảm xúc viết về mẹ hiền, người chịu khổ đau gánh vác trên vai sức nặng và lỗi lầm của lịch sử. Mẹ trong thơ ông là hình tượng chở che, bao dung và độ lượng, là hình tượng của đức hy sinh, cam chịu, giản dị mà vĩ đại. Hình ảnh mẹ là biểu tượng thiêng liêng, làm nảy sinh tình yêu thương lớn lao trong đời sống này, như tình yêu quê hương, xứ sở, tình yêu con người, đồng bào, Tổ quốc v.v. “Thấy mẹ nhìn chăm chú qua cánh cửa chớp/ Không bị xối mòn bởi cơn mưa/ Mà bởi tiếng ho của mẹ/ Và những giọt nước mắt xa xăm” (Một lần và một lần nữa); “Tối nay mẹ tôi/ Bật khóc trên giường/ Tiếng khóc của mẹ biến giấc mơ tôi thành than đá/ Giấc mơ thật thà” (Khu phức hợp của tội lỗi).

Cũng trong bài thơ “Khu phức hợp của tội lỗi”, Víctor Rodríguez Núñez đã tra vấn những kẻ đã mang lại khổ đau cho người mẹ, cho quê hương ông “Ai trong thế giới này ra lệnh/ Mẹ tôi khóc?”: “Kể cả khi chú chim kia quay lại/ Tái sinh từ khói và bụi tro/ Để chết thêm lần nữa/ Như một cái tổ/ Trên cành cây buổi tối cô đơn” (Câu chuyện ngụ ngôn).

Tổ quốc Cuba yêu dấu luôn là hơi thở, dòng máu nóng chảy trong huyết quản nhà thơ. Nó nuôi sống từng tế bào ông, nâng tầm vóc ông ngày càng cao lớn, vững chãi. Víctor có nguồn năng lượng sáng tạo mạnh mẽ với trữ lượng khổng lồ, nhưng người đọc cảm nhận ông luôn đi những bước khoan thai, trầm tĩnh. Trong bài thơ “Những bức chân dung tự họa” ông đã bày tỏ quan niệm sáng tạo của mình: “Mọi thứ thanh bình ngăn nắp theo thứ tự/ Tại điểm nổ tung”.

Dù đời sống này, thế giới này còn đầy ắp bóng tối, nhưng thơ của Víctor Rodríguez Núñez cho chúng ta hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn. Mỗi bài thơ trong “nghịch đảo” mở ra trước mắt bạn đọc tựa bàn tay ấm áp, ân cần. Bàn tay ấy như ngọn lửa, hạt giống, như mầm cây tái tạo thế giới hỗn mang, đổ vỡ. Tôi mượn câu thơ trong bài “Tan” của ông để thay lời kết bài viết nhỏ này: “Nhưng vẻ đẹp tái tạo toàn thể/ Đang dần hiện ra”. /.

 

Chùm thơ VÍCTOR RODRÍGUEZ NÚÑEZ

(rút từ tập nghịch đảo)

VŨ VIỆT HÙNG dịch từ tiếng Anh

 

 

Chuyến bay 1

 

Một chuyến bay không điểm đến, không nguồn gốc

Như một viên đạn bạc

                   Trong miệng con sói

Đám mây bão hoài niệm vụng về

 

Sự khai minh hỗn loạn

Dọc theo khoảng trống

                   Trong tấm da bị nghiền nát

 

Một chiếc lông trong màn đêm bầu dục

 

Vũ lực được che đậy

                    Trong bụi cây thiên đàng

 

Quỹ đạo vững chắc không thể nào với tới

Như một tia định mệnh

                   Để đi sâu vào thời đại

 

Trong cảnh tha hương nó vẫn rạng ngời.

 

Đôi mắt bị đánh cắp từ bầu trời

 

Điều mà cô ấy làm bây giờ

Quỳ xuống giữa hai chú chim nhạn

Vincente Huidobro

 

1

 

Hôm nay bạn kiếm sống bằng việc trông coi

Cái chết của con bò

Học viện không thể đáp ứng sự ly hôn

Tình yêu đang mòn mỏi

 

Trong đồng cỏ của giấc mơ Mỹ

Giữa những cây tầm ma và bụi mâm xôi

Chỉ để cất cao tiếng vọng của cái chết

Cô ấy bước đến những nỗi đau lớn chẳng băn khoăn

 

Gã dân quê Baudelaire nghiến răng

Bên trong lòng cuốn sách được chải chuốt

Những phương hướng thẳng thắn được viết ra

 

Do chủ nhân của trang trại

Không một sinh vật nào

Được ăn thịt động vật trừ chính cái chết

 

2

 

Chú sói đồng cỏ trốn quanh

Ánh mắt của gã đồ tể

Sớm thôi chiếc xe tải với bác sĩ thú y sẽ tới

Để chứng thực sự kết thúc này

 

Con quái vật và âm nhạc sẽ lên đường

Tới nhà máy làm thức ăn cho chó

Và bạn sẽ đến kịp trong một ngày

Trong ánh sáng lờ mờ của thư viện

 

Hay trong những chiếc lá được giữ gìn cẩn thận

Của nghĩa địa mà cái chết thậm chí chẳng màng

Trong số những chiếc gai mà quả mọng đông cứng

 

Cây kế chiếm phần lớn trong nó và hoa

Cơn gió dày lê lết chống lại những rìa vực

Được vạch lên bằng những rỉ sét

 

3

      

Cơn gió thoảng không biết làm gì với gã đàn ông

                                                        bị treo cổ

Chà xát ngược lại sợi len trên chiếc áo

Chiếc quần đùi bỗng chốc ngắn hơn

Trước khi trọng lực tự do hấp dẫn của đôi chân

Vết bầm trên mặt anh ta

                   Đôi bàn tay thất bại

Vinh dự chiếc cổ gãy

                   Đừng hãm hại cô

 

Cô ấy lưỡng lự giữa treo anh ấy lên và giật tóc

Gạt đi cái tôi của anh

Có những mặt hồ đung đưa làm những chiếc lá

                                                  trở nên đỏ rực

 

Những chú ngựa phi nước đại

Cơ thể trên cung đường của cô

Đừng bỏ cô thở hổn hển đến chết

 

4

 

Ngay đối diện với cơn gió Bắc

Lời thì thầm bị cắt đứt của cây ngũ cốc bật lên

Bẻ cong những cột trụ

Làm lung lay các khớp nối

 

Và ánh sáng chồng chất kinh hoàng

Của việc ngã xuyên qua những vết nứt

Vào vựa lúa sơn đỏ liên tục và liên tục

Nó sẽ bị rối tung trong tiếng kêu của chú bò

 

Mài dũa những kẻ sinh đồ

Những kẻ thách thức đêm đen

Trong sự chói lóa của những giấc mơ

 

Khi ngọn lửa hoàn thành sứ mệnh của nó

Tro bụi hóa thành mảnh vỡ

Không được đánh bóng tầm nhìn

 

 

Những bức chân dung tự họa

 

Đây là chiếc giá vẽ

Tấm vải bạt trong vắt

                   Của sợi gai dầu và vải lanh

Sự căng thẳng trên khung tranh

Tấm bảng hình bầu dục với tất cả gam màu

Xanh cô-ban

                   Đen ngà

Vàng Naples

Một bộ những chiếc bút vẽ

                   Một con dao, bảng màu

Và một lít tinh thần khoáng vật

Thứ đang thiếu là ánh sáng

Một bàn tay vụng về

                  Bất cứ thể loại nào của sự vỡ mộng

Khuôn mặt lặng im của bạn người đọc giả nhân

                                                                          giả nghĩa

 

Một bức tường xây xát và đau đớn

Bốn cây cọ hoàng gia

                   Mờ đục

Như tất cả những câu nói của con trai tôi

Những dòng ẩm thấp của đường chân trời

Chú chó –

               &n