December 6, 2023, 5:42 pm

8 nội dung trọng tâm cho phát triển kinh tế những tháng cuối năm

Ngày 30/9, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2023 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương.

Cùng tham dự phiên họp tại các điểm cầu có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, đồng chí Đinh Văn Ân-Trợ lý Tổng Bí thư, lãnh đạo Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính–Ngân sách của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tại phiên họp, các đại biểu tập trung thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội tháng 9, quý III, 9 tháng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong tháng 10 và những tháng còn lại của năm 2023, tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công, triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, 3 chương trình mục tiêu quốc gia, Báo cáo giữa nhiệm kỳ theo Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025. Các Bộ trưởng cũng đã phản hồi, trả lời các đề xuất, kiến nghị của các địa phương.'

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì họp phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9

Các báo cáo và ý kiến tại hội nghị thống nhất đánh giá trong 9 tháng, với phương châm "Đoàn kết kỷ cương, bản lĩnh linh hoạt, đổi mới sáng tạo, kịp thời hiệu quả", Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp theo các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ.

Trong đó, Chính phủ đã tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, với 08 Phiên họp xây dựng pháp luật và 09 Hội nghị trực tuyến, phiên họp Chính phủ thường kỳ.

Trong tháng 9, Chính phủ đã ban hành 06 nghị định, 13 nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 02 quyết định quy phạm và 08 công điện. Tính chung 9 tháng, Chính phủ  đã ban hành 67 nghị định, 175 nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ ban hành 25 quyết định quy phạm, nhiều quyết định cá biệt và 24 chỉ thị. Đã trình Quốc hội thông qua 09 luật, 02 nghị quyết và cho ý kiến 09 dự án luật; dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua 07 luật, cho ý kiến 06 luật tại kỳ họp thứ 6.

Đồng thời, ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, xác định rõ đây là trọng tâm ưu tiên trong chỉ đạo điều hành. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, tạo việc làm, sinh kế cho người dân, với 26 Tổ công tác của thành viên Chính phủ trực tiếp làm việc với địa phương và 05 Tổ công tác đôn đốc giải ngân vốn đầu tư công.

Chính phủ, Thủ tướng xử lý kịp thời, hiệu quả một khối lượng lớn các nhiệm vụ, công việc thường xuyên ngày càng nhiều, đòi hỏi ngày càng cao; từng bước giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng kéo dài (các doanh nghiệp, dự án thua lỗ, ngân hàng yếu kém) và xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh (như thiên tai, các vụ tai nạn giao thông, cháy nổ đặc biệt nghiêm trọng, các vấn đề quốc phòng, an ninh, đối ngoại…).

Cùng với đó, triển khai thiết thực, hiệu quả nhiều hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế quan trọng, ký kết, phê duyệt các điều ước quốc tế.

Phiên họp thống nhất đánh giá, nhìn chung, tình hình kinh tế-xã hội tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau cao hơn quý trước và đạt kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực, với một số kết quả nổi bật.

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng được thúc đẩy; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát theo Nghị quyết của Quốc hội.

Lạm phát nhìn chung có xu hướng giảm dần trong bối cảnh lạm phát thế giới neo ở mức cao: CPI bình quân 9 tháng tăng 3,16%, thấp hơn nhiều mục tiêu đề ra (khoảng 4,5%). Tăng trưởng phục hồi tích cực, quý sau cao hơn quý trước: GDP quý I tăng 3,28%, quý II tăng 4,05%, quý III tăng 5,33%; tính chung 9 tháng tăng 4,24%, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới.

Trong đó, khu vực nông nghiệp tăng 3,43%; công nghiệp và xây dựng tăng 2,41%; khu vực dịch vụ tăng 6,32%. Đặc biệt, nhiều địa phương phục hồi, tăng trưởng khá cao, như TPHCM quý III tăng 6,71%, tính chung 9 tháng tăng 4,57%; Hà Nội là 6,49% và 6,08%; Bình Dương là 7,51% và 4,49%; Đồng Nai là 6,4% và 5,03%; Hải Phòng là 10,48% và 10,08%; Quảng Ninh là 10,64% và 9,88%.

Thị trường tiền tệ, tỉ giá cơ bản ổn định; mặt bằng lãi suất  tiền gửi và cho vay mới bình quân giảm khoảng 1% so với cuối năm 2022. Thu ngân sách nhà nước 9 tháng đạt 75,5% dự toán năm, trong khi miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất 152,5 nghìn tỷ đồng và dự kiến cả năm sẽ đạt dự toán thu.

Xuất nhập khẩu tiếp tục xu hướng tích cực, xuất khẩu tháng 9 tăng 4,6%, nhập khẩu tăng 2,6% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng xuất siêu 21,68 tỷ USD (cùng kỳ là 6,9 tỷ USD). An ninh năng lượng (điện, xăng, dầu), an ninh lương thực được bảo đảm.  Thị trường lao động phục hồi tốt, cơ bản bảo đảm cân đối cung cầu lao động (lực lượng lao động tăng 760.000 người so với cùng kỳ).

Thứ hai, các ngành, lĩnh vực chủ yếu phục hồi, phát triển ổn định, đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp tiếp tục tăng trở lại, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý III tăng 4,57% (quý II tăng 0,95%, quý I giảm 0,75%), trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,61%.

Khu vực dịch vụ duy trì mức tăng khá cao: tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 tăng 2,4% so với tháng 8 và 7,5% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng tăng 9,7%. Khách quốc tế đạt 8,9 triệu lượt, gấp 4,6 lần cùng kỳ (vượt kế hoạch năm 2023).

Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế; lúa gạo được mùa được giá; đàn lợn tăng 4,2%; sản lượng gỗ tăng 3,3%; sản lượng thủy sản tăng 2,1% so với cùng kỳ.

Thứ ba, đầu tư được thúc đẩy mạnh mẽ, trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý I tăng 3,6%; quý II tăng 5,6%; quý III tăng 7,6%; tính chung 9 tháng tăng 5,9%.

Vốn đầu tư của khu vực Nhà nước quý I tăng 11,5%; quý II tăng 13,5%; quý III tăng 18,7%; tính chung 9 tháng tăng 15,1%. Đặc biệt, giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng đạt trên 363.000 tỷ đồng, bằng 51,38% kế hoạch, cao hơn cùng kỳ (46,7%) và số tuyệt đối cao hơn khoảng 110.000 tỷ đồng.

Tổng vốn FDI đăng ký 9 tháng đạt 20,21 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện đạt 15,91 tỷ USD, tăng 2,2%.

Thứ tư, công tác quy hoạch được đẩy mạnh; hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông được tập trung đầu tư. Đã trình Quốc hội thông qua Quy hoạch tổng thể quốc gia; ban hành Quy hoạch điện VIII và nhiều quy hoạch ngành, lĩnh vực, vùng, tỉnh. Đến nay đã có 74 quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh đã thẩm định xong (27 quy hoạch đã được phê duyệt). Quyết liệt triển khai các Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển 6 vùng kinh tế-xã hội; thành lập và chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động, phát huy vai trò của 6 Hội đồng điều phối vùng.

Đã đưa vào sử dụng 8/11 đoạn tuyến cao tốc Bắc-Nam phía đông giai đoạn 1; khởi công 12 dự án cao tốc Bắc-Nam phía đông giai đoạn 2021-2025, 03 cao tốc trục Đông-Tây, Vành đai 3 TPHCM, Vành đai 4 Hà Nội, nhà ga Cảng hàng không quốc tế Long Thành, nhà ga T3 Tân Sơn Nhất… Dự kiến đến cuối năm đưa vào khai thác 1.832 km đường cao tốc (so với 1.000 km vào đầu nhiệm kỳ).

Thứ năm, phát triển doanh nghiệp tiếp tục xu hướng tích cực. Trong tháng 9 có gần 12,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 10,6% so với cùng kỳ; có trên 5,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 13,5%.

Thứ sáu, các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế được chú trọng; an sinh xã hội và đời sống người dân tiếp tục được cải thiện.  Thu nhập bình quân người lao động quý III tăng 146.000 đồng so với quý II; tính chung 9 tháng tăng 451.000 đồng so với cùng kỳ. Tỉ lệ hộ dân có thu nhập không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ là 94,1% (cùng kỳ năm 2022 là 83,2%).

Trong tháng 9, đã xuất cấp 3,3 nghìn tấn gạo hỗ trợ cứu đói, giáp hạt; tính chung 9 tháng xuất cấp gần 21,5 nghìn tấn.

Tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật kỷ niệm các ngày lễ lớn; quan tâm công tác giáo dục; tháo gỡ vướng mắc trong mua sắm thuốc, vật tư y tế và phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Thể thao thành tích cao đạt nhiều kết quả nổi bật.

Thứ bảy, công tác cải cách thủ tục hành chính; sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế được đẩy mạnh; tích cực triển khai Đề án 06. Đã cắt giảm, đơn giản hoá 2.189 quy định kinh doanh; 68,8% thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến. Chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương; rà soát, sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, triển khai Đề án 06…

Cùng với đó, tình hình chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; trật tự an toàn xã hội cơ bản được bảo đảm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được tăng cường, góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, nhất là đối ngoại cấp cao, ngoại giao kinh tế; uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam tiếp tục được củng cố, nâng lên. Thông tin truyền thông được chú trọng, nhất là truyền thông chính sách.

Các tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực về Việt Nam. Đặc biệt, về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2023, Việt Nam xếp hạng 46/132, tăng 2 bậc so với năm 2022; xếp hạng môi trường kinh doanh tăng 12 bậc; xếp hạng giá trị thương hiệu quốc gia tăng 01 bậc, xếp thứ 32/100 với trị giá 431 tỷ USD, có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới tính từ năm 2019 đến nay (74%).

Phát biểu kết luận phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính cơ bản thống nhất với các báo cáo và ý kiến tại phiên họp, ghi nhận, biểu dương nỗ lực, kết quả của các bộ, ngành, địa phương, đóng góp vào thành tựu chung của cả nước.

Một điểm nổi bật khác là những năm qua, trong bối cảnh vừa phải phòng, chống và khắc phục hậu quả dịch bệnh COVID-19, vừa phải bảo đảm an sinh xã hội, chúng ta vẫn tiết kiệm được 500.000 tỷ đồng để chuẩn bị cải cách tiền lương trong các năm 2024, 2025 và 2026 theo Nghị quyết 27 của Trung ương khóa XII.

Đánh giá đây là nỗ lực rất lớn, Thủ tướng giao Bộ Nội vụ rà soát, xây dựng các cơ chế, chính sách thực hiện phương án cải cách tiền lương khi được Trung ương thông qua.

Bên cạnh những thành tựu, kết quả rất cơ bản đạt được, Thủ tướng dành thời gian phân tích về những tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức nổi lên, nguyên nhân của kết quả đạt được, của hạn chế, yếu kém và các bài học kinh nghiệm.

Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP chưa được như mong muốn. Lạm phát còn chịu nhiều sức ép. Các động lực tăng trưởng gặp khó khăn, như công nghiệp phục hồi chậm, giá trị tăng thêm 9 tháng chỉ tăng 1,65%. Tình hình lao động, việc làm gặp nhiều thách thức. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo.  Dịch bệnh, biến đổi khí hậu, bão lũ, nắng nóng El Nino, hạn hán, sạt lở đất… diễn biến phức tạp.  Tình hình an ninh trật tự ở một số địa bàn, lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ, nhất là tội phạm mạng, ma tuý, bán hàng đa cấp, tín dụng đen; diện tích rừng bị chặt phá, bị cháy tăng mạnh...

Lưu ý một số bài học kinh nghiệm, Thủ tướng nêu rõ, cần nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách nhanh, kịp thời theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao; nâng cao hiệu lực, hiệu quả phối hợp công tác giữa các cấp, các ngành, các địa phương. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và kiểm tra, giám sát thực hiện.

Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ các chính sách, giải pháp điều hành. Chú trọng bảo đảm sự cân bằng hài hoà, hợp lý giữa: Tỷ giá và lãi suất; tăng trưởng và lạm phát; cung và cầu; chính sách tiền tệ và tài khóa; tình hình bên trong và bên ngoài.

Bảo vệ, phát huy tinh thần dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; loại bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại và xử lý nghiêm trường hợp né tránh sợ trách nhiệm, không dám làm.

Các ý kiến tại cuộc họp cũng thống nhất đánh giá tình hình sẽ còn tiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức. Bên cạnh đó, chúng ta có những thuận lợi như nền tảng vĩ mô tương đối tốt và chiều hướng phục hồi của nền kinh tế, quan hệ quốc tế thuận lợi, niềm tin thị trường, niềm tin của nhà đầu tư ngày càng được củng cố và tăng cường.

Với yêu cầu tiếp tục kiên định mục tiêu tổng quát đã đề ra, Thủ tướng nhấn mạnh cần bám sát thực tiễn, nắm chắc tình hình, tăng cường năng lực phân tích, dự báo để phản ứng chính sách chủ động, tích cực, kịp thời, linh hoạt, hiệu quả, chuẩn bị kỹ các phương án, kịch bản, giải pháp ứng phó với các tình huống có thể xảy ra; dứt khoát không trông chờ, ỷ lại, đùn đẩy, né tránh, "không nói không, không nói khó, không nói có mà không làm". Đẩy mạnh hơn nữa phát triển hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông, ứng phó biến đổi khí hậu, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục, văn hóa). Tích cực tháo gỡ khó khăn về pháp lý cho người dân và doanh nghiệp. Chú trọng đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu mới, các ngành mới nổi. Tiếp tục phân cấp, phân quyền, cải cách mạnh mẽ  thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.

Thủ tướng nêu rõ, trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng và cụ thể là công nghiệp chế biến, chế tạo. Tiếp tục cụ thể hoá các Nghị quyết Đại hội XIII, các Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; thúc đẩy mạnh mẽ các ngành mới nổi, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ…; đẩy nhanh đô thị hoá, xây dựng đô thị thông minh gắn với phát triển 6 vùng kinh tế-xã hội, tăng cường liên kết vùng… qua đó tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển nhanh và bền vững trong dài hạn.

Trên cơ sở kết quả 9 tháng, dự báo bối cảnh, tình hình thế giới, trong nước thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cập nhật các kịch bản tăng trưởng quý IV và cả năm 2023.

Kịch bản 1: Tăng trưởng kinh tế cả năm khoảng 5,0%, quý IV cần tăng 7,0% (quý IV năm 2022 tăng 5,92%).

Kịch bản 2: Tăng trưởng kinh tế cả năm khoảng 5,5%, quý IV cần tăng 8,8%.

Kịch bản 3: Tăng trưởng kinh tế cả năm khoảng 6%, quý IV cần tăng 10,6%.

Về nội dung này, Thủ tướng yêu cầu lựa chọn kịch bản tăng trưởng GDP cả năm khoảng 6% để tiếp tục phấn đấu đạt kết quả cao nhất có thể cho năm 2023.

Về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, Thủ tướng nhấn mạnh 08 nội dung trọng tâm.

Thứ nhất, điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ, hài hoà giữa các chính sách, nhất là các chính sách tài khoá, tiền tệ. Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hài hoà với chính sách tài khoá mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách khác để ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô. Đặc biệt chú trọng công tác điều phối kinh tế vĩ mô giữa các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương và Ngân hàng Nhà nước.

Thứ hai, để thúc đẩy mạnh mẽ 3 động lực tăng trưởng, Thủ tướng yêu cầu thúc đẩy đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài và tăng cường hợp tác công tư (PPP), thu hút FDI có chọn lọc, nhất là những ngành mới nổi, công nghệ cao… Trong đó, Thủ tướng yêu cầu tập trung cho hạ tầng, đào tạo nhân lực và cải cách thủ tục hành chính để chuẩn bị đón các dự án FDI mới.

 Về xuất khẩu, cần giữ vững, củng cố các thị trường truyền thống và tích cực mở rộng các thị trường mới (Trung Đông, Châu Phi, Mỹ Latin); nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn mới; tận dụng cơ hội các FTA đã ký kết; đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định, cam kết, liên kết thương mại mới.

Về tiêu dùng, phát triển mạnh thị trường trong nước hơn 100 triệu dân; đẩy mạnh cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; tổ chức rộng khắp các chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng trên cả nước; thúc đẩy thương mại điện tử; bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, nhất là hàng thiết yếu trong dịp lễ tết, cuối năm; tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại…

Thứ ba, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện quyết liệt Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, 3 chương trình mục tiêu quốc gia. Tập trung vốn, đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng trọng điểm, quan trọng quốc gia, sớm hoàn thành đưa vào sử dụng; kiên quyết không để tình trạng dàn trải, kém hiệu quả. Xác định rõ đây là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng trong ngắn hạn; đồng thời góp phần tạo ra hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại để tăng năng lực của nền kinh tế, thu hút đầu tư tư nhân, FDI cho phát triển bền vững.

Thứ tư, tập trung phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực chủ yếu. Trong đó, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến chế tạo để trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.

Thúc đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, các mặt hàng thiết yếu đáp ứng nhu cầu cuối năm, các dịp lễ tết; tận dụng tốt cơ hội xuất khẩu nông sản, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực quốc gia;  thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp chống khai thác thuỷ sản bất hợp pháp (IUU) để gỡ thẻ vàng của EU.

Về dịch vụ, du lịch, phát triển mạnh các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, ứng dụng công nghệ cao (vận tải, logistics, giáo dục, y tế, ngân hàng…); đẩy mạnh thu hút du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, đẩy mạnh xúc tiến du lịch các thị trường trọng điểm.

Thứ năm, chú trọng tận dụng thời cơ, phát triển các ngành, lĩnh vực mới nổi, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng, nhất là chuyển đổi số  (như sản xuất chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ…); không để bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư từ việc nâng cấp quan hệ và các hiệp định thương mại, đầu tư với các đối tác.

Thứ sáu, thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất kinh doanh với việc phát huy vai trò 26 tổ công tác của Chính phủ. Đẩy mạnh triển khai số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính; tăng cường rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa, bảo đảm thực chất, hiệu quả trên cơ sở lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Thứ bảy, chú trọng phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường, nhất là các chính sách người có công, bảo trợ xã hội, y tế, giáo dục đào tạo, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống nhân dân. Tăng cường dự báo, cảnh báo thiên tai, biến đổi khí hậu, chủ động các biện pháp phòng, chống và khắc phục hậu quả.

Thứ tám, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đặc biệt chú trọng công tác phòng cháy chữa cháy. Triển khai hiệu quả các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, tìm kiếm thị trường cho sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Tăng cường thông tin, truyền thông, nhất là truyền thông chính sách; đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả các thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù địch; xử lý nghiêm các vi phạm.

Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì và phối hợp cần tập trung rà soát, chuẩn bị kỹ nội dung, hoàn thiện các báo cáo, tờ trình Hội nghị Trung ương và Kỳ họp Quốc hội sắp tới, bảo đảm chất lượng, tiến độ.

Thủ tướng mong muốn các bộ, ngành, địa phương tiếp tục nỗ lực hơn nữa để hoàn thành đạt mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2023, tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai thực hiện kế hoạch năm 2024 và tiến tới hoàn thành mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra cho cả nhiệm kỳ./.

CP


Có thể bạn quan tâm